Tuesday, July 2, 2013

Từ Sâm





Tôi bỏ tù tôi

tôi bỏ tù con mắt
vì nhìn vào sự thật
tôi bỏ tù đôi tai
vì chối lời đường mật

tôi bỏ tù nụ cười
vì nhe răng châm biếm
tôi bỏ tù cái mũi
dám chê mùi hôi thối

tôi bỏ tù đôi chân
dám lang thang khắp vùng
đạp lên loài cỏ ác

tôi bỏ tù ý nghĩ
lật hết mọi gông cùm
cái đầu đang mắc cạn
trong huy hoàng viển vông

tôi bỏ tù trái tim
dám rung lên uất hận
bỏ tù giọt nước mắt
vào nỗi buồn câu thơ

trong tù tôi sung sướng
với không gian tự do

**

Bạn đồng hành và tôi

tôi đi về phía ngược
bạn theo chiều gió đẩy sau lưng
tôi ngẩng đầu kính bái hồn thiêng
bạn gập lưng xoa chân quyền lực

tôi gom góp khổ đau đơn lẻ
bạn ban phát nụ cười đám đông

chân tôi bám vào đất đai
tay bạn níu lời có cánh
tôi tin vào tình thâm
bạn tin vào quí nhân phù trợ

đường tôi đi - phương nằm ngang
đường bạn lên - theo hướng bậc thang

bạn đến tận cùng
tôi loay hoay từ vạch xuất phát





Chữa lành tâm sân hận


Monday, July 1, 2013

Trần Văn Thủy và

 “Chuyện nghề của Thủy”

Mặc Lâm,l
bia-sach-305.jpg
Bìa sách “Chuyện nghề của Thủy”.
Courtesy PhươngNamBook

Đạo diễn Trần Văn Thủy người nổi tiếng với những bộ phim tài liệu như “Hà Nội trong mắt ai” hay “Chuyện tử tế” vừa hoàn tất cuốn sách mang tên “Chuyện nghề của Thủy” kể lại quảng đường nghể nghiệp vui buồn truân chuyên mà ông đã trải qua. Tác phẩm tuy mới ra mắt nhưng đã chiếm cảm tình của độc giả sau khi đạo diễn có chuyến đi xuyênViệt nhằm giao lưu với người yêu thích ông cũng như tác phẩm của ông. Mặc Lâm được ông cho biết những điều xảy ra phía sau tác phẩm từ khi thai nghén tới khi thành hình.

Ai cũng có một nghề

Trước tiên Đạo diễn Trần Văn Thủy chia sẻ:
Trần Văn Thủy: Xin chào anh Mặc Lâm. Tôi muốn trả lời anh một cách giản dị như thế này: Trong cuộc sống ai cũng có một cái nghề. Tôi cũng như mọi người cũng có một cái nghề. Nghề của tôi là làm phim tài liệu, như mọi người biết đấy, cũng có chuyện vui, chuyện buồn, chuyện khó, chuyện dễ từ khi niên thiếu, cho đến khi trưởng thành, cho đến khi làm nghề. Bây giờ thì nhiều tuổi rồi,viết hồi ký để lại cho con cháu, cho bạn bè đọc chơi thì cũng hay.
Thế nhưng mà lười, ngại bởi vì chuyện nghề của tôi thì có lúc vất vả, có lúc gian nan cho nên tôi cũng ngại ngùng lắm. Tôi cũng không hào hứng để làm việc đó. Nhưng rồi bạn bè lại thúc giục và tình cờ tháng 11 năm 2011 có hai nhà điện ảnh Mỹ là Michael Ronof, hiệu phó trường Đại học Điện ảnh North Carolina và ông Leninson – một chuyên gia tiến sĩ về điện ảnh, các vị ấy yêu cầu hợp tác với tôi để làm cuộc phỏng vấn dài để thực hiện một chương trình nghiên cứu mang tên “Chuyện tử tế của Trần Văn Thủy, Tâm linh người chính trị”.
Trước đây tôi có sang North Carolina để nói chuyện, chiếu phim cho sinh viên xem vì vậy về mặt xã giao thì tôi cũng đã làm việc với họ trong một thời gian dài. Tổng cộng thời gian làm việc với nhau cũng đáng kể, rồi khi kết thúc công việc thì tôi mang những tài liệu đó dể bạn bè đọc chơi.
Nghề của tôi là làm phim tài liệu, như mọi người biết đấy, cũng có chuyện vui, chuyện buồn, chuyện khó, chuyện dễ từ khi niên thiếu, cho đến khi trưởng thành, cho đến khi làm nghề.
-Trần Văn Thủy
Một trong những người bạn đọc tài liệu đó là anh Lê Thanh Dũng, tiến sĩ khoa học. Anh rất thích thú với những tài liệu mà tôi đã đưa cho anh đọc. Nhưng anh có một băn khoăn là vì thực ra đây là vấn đề của người Việt Nam mà viết ra cho người Việt đọc với nhau thì có khi nó có ích hơn. Anh cũng bảo rằng dầu sao thì người Mỹ cũng có thiện chí và sự hiểu biết cùng với nền văn hóa của họ thì cũng được. Thế nhưng người Việt Nam nên đọc những thứ này.
Do sự thúc giục của anh Lê Thanh Dũng cùng bạn bè của tôi thì chúng tôi vào việc. Tôi cùng với anh Lê Thanh Dũng thực hiện cuốn sách này trong vòng 10 tháng. Chúng tôi bàn thảo với nhau và chúng tôi viết lại một cách rất trung thực những gì đã xảy ra trong cuộc đời làm nghề của tôi. Nó cũng mất nhiều thì giờ lắm vì phải lục lọi trong trí nhớ, trong quá vãng những chuyện vui buồn, những chuyện trong chiến tranh, chuyện tôi đi học ở Nga, rồi sau đó tôi trở về nước và tôi làm những bộ phim. Đôi khi có những khó khăn, những mắc mớ, những hiểu lầm… Hai anh em ngồi viết với nhau.
Mặc Lâm: Thưa đạo diễn chúng tôi rất ngạc nhiên vì cuốn sách có thể được xem là tự truyện của ông nói về quãng đường sáng tác trong vai trò của một đạo diễn nhưng trên bìa cuốn sách lại xuất hiện một cái tên thứ hai là Lê Thanh Dũng, đặt lên trên cả tên của ông nữa. Chắc là có điều gì thú vị và rất quan trọng mới có chuyện lạ này xảy ra, ông có thể cho thính giả biết thêm chi tiết về đồng tác giả Lê Thanh Dũng hay không?
Trần Văn Thủy: Chúng tôi cộng tác với nhau vì như thế này: Có đoạn tôi kể miệng thôi còn anh Dũng dùng máy ghi âm ghi lại, sau đó thì anh ấy viết lại bằng văn phong, bằng trải nghiệm của anh ấy. Nói chung, khi tôi kiểm tra lại thì những đoạn này cũng rất xúc động và cũng rất là trung thực, nghĩa là đúng với dĩ vãng của cuộc đời tôi. Có lẽ số lượng tôi cũng tự viết cũng rất nhiều bởi vì kể cho bạn mình viết thì cũng hay nhưng mà mình viết bằng ngôn từ của mình thì thích hơn.
IMG_1765-250.jpg
Đạo diễn Trần Văn Thủy (đội mũ) và ông Lê Thanh Dũng tại buổi giới thiệu sách ở Hà Nội ngày 18/6/2013. Courtesy VOV.
Có nhiều đoạn tôi tự viết và anh Lê Thanh Dũng đánh máy giúp tôi. Nói chung những phần anh Dũng viết hay những phần tôi viết thì chúng tôi đều bàn nhau, đều góp ý cho nhau để làm sao nó được trung thực, được đúng. Hai chúng tôi thân nhất là đêm viết hai văn bản cuối cùng và cái tên của nó là “Chuyện nghề của Thủy”. Anh Lê Thanh Dũng đứng tên bên trên và tên tôi bên dưới vì nói cho cùng nếu không có anh Dũng thì việc này không xúc tiến được.Tóm lại là không có anh Lê Thanh Dũng thì không có cuốn sách này.
Mặc Lâm: Theo như chúng tôi biết thì Hà Nội trong mắt ai và Chuyện tử tế đã từng có thời được xem là nhạy cảm, làm sao cuốn sách thoát lưỡi kéo kiểm duyệt khi xuất hiện lại một cách rất chi tiết trong cuốn sách thưa ông?
Trần Văn Thủy: Điều này cũng sẽ là một điều thú vị bởi vì thực ra anh Lê Thanh Dũng và tôi cũng rất là lo lắng và cũng rất là hồi hộp. Trước tiên là không biết có được ấn hành hay không, có được phép in không. Thế nhưng rất may mắn là những người chịu trách nhiệm và đặc biệt là người biên tập của nhà xuất bản Hội nhà văn là những người rất là nhiệt thành ủng hộ công việc của chúng tôi. Sau khi so đi tính lại thì nói chung đây là cuốn sách hiếm hoi có những vấn đề đụng chạm nhưng đã được in nguyên xi và từ khi viết cho đến khi in thì nó cũng không có thay đổi gì. Nó trung thực như là bản thảo của chúng tôi. Đây là một giai đoạn rất quan trọng khi mà cuốn sách ra đời thì nó phải nộp lưu chiểu, phải được xem xét, cân nhắc để quyết định phát hành. May mắn là nó cũng được phát hành.

Không vì lợi nhuận

Mặc Lâm: Còn nhà phát hành thì sao? Họ có gặp trường hợp hậu kiểm duyệt như những cuốn sách có vấn đề trước đây sau khi thoát kiểm duyệt vẫn bị tịch thu vì nội dung...
Trần Văn Thủy: Tôi muốn nói về nhà sách Phương Nam; Nó nằm trong công ty Phương Nam. Đây là công ty rất lớn làm những việc về văn hóa. Chúng tôi cho rằng kinh doanh về văn hóa ở Việt Nam rất khó khăn bởi vì có những vấn đề nhạy cảm, có những vấn đề đụng chạm đến khái niệm khác nhau, những quan niệm khác nhau, đặc biệt là những vấn đề chính trị. Công ty Phương Nam cũng đã cố gắng phấn đấu trong lĩnh vực này và làm được những việc có ích, nhiều khi không phải về mặt lợi nhuận mà là vì lợi ích của xã hội, của cộng đồng. Đây cũng là một trong những việc mà Phương Nam đã làm. Thật ra cuốn sách này không có lãi bao nhiêu, thậm chí còn phải lỗ nữa.
Mặc Lâm: Vâng thưa đạo diễn, sau khi cuốn sách ra mắt bạn đọc thì chúng tôi biết là ông có một cuộc hành trình từ Nam ra Bắc, tới rất nhiều điểm để gặp độc giả và nghe những phản hồi của họ. Một cách nhìn chung thì họ phản hồi như thế nào về cuốn sách thưa ông?
Nói cho cùng nếu không có anh Lê Thanh Dũng thì việc này không xúc tiến được.Tóm lại là không có anh Lê Thanh Dũng thì không có cuốn sách này.
-Trần Văn Thủy
Trần Văn Thủy: Anh biết đấy, khi cuốn sách ra đời thì được tổ chức xuyên Việt để giao lưu. Tổ chức ở Sài Gòn ngày 8 tháng 6 rất đông ở tầng hai ở tòa nhà  trung tâm Sài Gòn. Tôi thấy đấy là cái buổi rất là xúc động bởi vì phần lớn là những người đầu bạc, phần lớn là những người trí thức, những người có vị thế rất cao về văn hóa đến dự. Sau đó đến ngày 11 thì tổ chức ở Nha Trang.
Ở Nha Trang có người của Phương Nam, có anh Lê Thanh Dũng và tôi; Anh em hiệu sách cùng với bạn bè của chúng tôi, những người thân thiết và hiểu nhau và có những kỷ niệm xa xưa với nhau thì cùng phối hợp tổ chức. Ở Nha Trang có gần 30 cơ quan đại diện của báo chí ở trong và ngoài nước đóng ở Nha Trang vì vậy sự kiện ở Nha Trang cũng gây được sự chú ý.
Sau Nha Trang chúng tôi tổ chức ở Đà Nẵng. Đà Nẵng tổ chức rất xúc động vì thời chiến tranh tôi đã quay phim ở Đà Nẵng. Tôi đã làm phim về những nhân vật, những người ở đó nên đã hiểu biết nhau trong cùng một thời gian ác liệt nên đã quần tụ lại cùng với độc giả, cùng với những nhà văn hóa, những nhà nghiên cứu của Đà Nẵng tụ tập lại và cũng làm vui vẻ và sang trọng lắm.
Tiếp theo là Huế, chúng tôi làm vào ngày 16 tháng 6. Không gian ở Huế có thể nói là đặc biệt nhất vì ở Huế mà lại bên cạnh sông Hương nữa nên nó rất sang trọng và đẹp. Một không gian tuyệt vời và mỹ mãn. Sau đó chúng tôi ra Hà Nội. Ở Hà Nội chúng tôi cũng tổ chức tại nhà sách Phương Nam.
Nói chung thành phần tham dự thì cũng na ná như ở những điểm trên. Tôi có nói đùa với đám chúng tôi đi với nhau như thế là giống một gánh hát. Cũng hơi mệt nhưng kết quả của các buổi giao lưu, đặc biệt là những ý kiến sâu sắc của phía độc giả, của bạn bè cũng đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Sau đó thì về.
Mặc Lâm: Ai là người đứng phía sau lệnh cấm bất thành văn không cho “Hà Nội trong mắt ai” trình chiếu rộng rãi có lẽ là câu tò mò nhất của người thích cuộn phim này. Không biết sau bao nhiêu năm, Chuyện nghề của Thủy có hé lộ đìêu gì có liên quan đến câu hỏi này hay không?
Trần Văn Thủy: Câu hỏi của anh được trình bày khá rõ, thẳng thắn và trung thực trong cuốn sách. Thật ra mà nói chuyện này cũng quá xưa rồi. Tôi có kể là xuất phát từ đâu mà tôi và các đồng nghiệp thực hiện bộ phim đó. Rồi cái sự hay dở, cái sự gian nan của cuốn phim đó như thế nào thì tôi cũng có viết. Tôi muốn thưa với anh chuyện nghề của tôi trong “ Hà Nội Trong Mắt Ai” không phải là tâm điểm đâu. Bản thân những khó khăn của phim “Chuyện Tử Tế” sau này đưa ra ngoài để mà dự Liên hoan phim Quốc tế cũng không phải là tâm điểm.
Cái nền của cuốn “Chuyện nghề của Thủy” là hoàn cảnh tôi làm nghề như thế nào. Cái niềm vui, nỗi buồn của tôi, lý do gì thúc đẩy tôi cố gắng để đi theo con đường ấy, đề tài ấy, cái hướng làm phim như thế. Rồi những người có lòng hiểu biết và có trách nhiệm đã giúp đỡ, đã cứu giúp tôi như thế nào trong giai đoạn khó khăn.
Thật ra, sau này khi hoàn thành bản thảo cái quyển “ Chuyện nghề của Thủy” thì anh Dũng và tôi cũng được đi khá nhiều. Nó cũng không đụng chạm gì bên chính trị hay sự nhạy cảm nào mà chiến lược của chúng tôi phải lượt đi vì dung lượng của nó quá lớn.
Thời buổi bây giờ văn hóa đọc xuống cấp, văn hóa nghe nhìn phát triển cho nên làm quyển sách quá dày (474 trang). Trong quá khứ nó xảy ra những chuyện a, b, c, chúng tôi cũng kể lại về mặt trợ giúp rất là trung thực. Tự đáy lòng chúng tôi muốn dùng lời lẽ ôn hòa nhất, súc tích nhất để kể lại chuyện đã qua như thế nào với mục đích hướng tới tương lai cởi mở hơn.
Mặc Lâm: Cám ơn đạo diễn Trần Văn Thủy đã cho chúng tôi biết nhiều điều hơn về tác phẩm này.
Trần Văn Thủy: Cảm ơn anh Mặc Lâm và tôi cũng cảm ơn quý khán thính giả của Đài Á Châu Tự Do.

VÀI Ý TƯỞNG VỀ THƠ



             Ý Tưởng về Thi Ca của các Nhà Thơ Pháp. 

                                                                    CHÂN PHƯƠNG tuyển dịch




  La poésie est une pratique de la vigilance dans tous les actes de la vie quotidienne devenus contemplation, un exercice spirituel, un sacerdoce. Michel JOURDAN

  Thơ là thực tập canh thức trong mọi hành vi đời sống thường ngày đã trở thành chiêm nghiệm. Thơ là thể dục tâm linh, một chức vụ tôn nghiêm.

  La poésie, c’est la lutte contre l’usure, non seulement l’usure des mots, mais à l’occasion de cette usure-là, celle de toute notre vie. Lutte contre la routine, contre la répétition  monotone de nos gestes quotidiens. Maxime ALEXANDRE

  Thơ là chống trả sự xói mòn, không chỉ xói mòn từ ngữ mà thông qua đó là sự xói mòn của trọn một đời người. Chống lại tập quán, sự lặp đi lặp lại nhàm chán những động tác thường ngày của chúng ta.

  On est accoutumé à dire que le poète est le voyageur qui est parti pour le Pays des Chimères.Cela est faux. Le poète est parmi les rares voyageurs d’ici-bas qui sont partis pour le Pays de la Vie, quittant le Royaume des Apparences pour celui des Réalités spirituelles, - les seules éternelles. Le poète est un réaliste dans le plus haut sens spirituel du terme. Malcolm de CHAZAL

  Người ta có thói quen cho rằng nhà thơ là lữ khách đi về Xứ Hoang Đường. Nói thế là sai. Trong đám lữ hành hiếm hoi của thế gian này, nhà thơ là kẻ đi tìm Vùng Đất của Sự Sống, rời xa Vương Quốc của Sắc Tướng để tìm Vương Quốc các Thực Thể tâm linh – duy nhất vĩnh hằng.Nhà thơ là kẻ tin vào thực hữu hiểu theo nghĩa tâm linh cao nhất của từ này.

  Un grand poète est intraduisible, et c’est là sa force. Parce qu’une fois que nous l’avons lu, et obligatoirement mal traduit, son pays d’origine nous reste interdit et ensorcelant…Poète est un homme qui nous donne envie d’aller vivre chez lui, mais chez lui n’est nulle part. Georges PERROS

  Không thể dịch một nhà thơ lớn, và đấy là uy lực của thi nhân. Bởi vì sau khi chúng ta đọc ông xong và tất nhiên là đã dịch không đạt lắm, quê nhà nguyên quán của ông vẫn là nơi chốn cấm kỵ và rù quyến mãnh liệt chúng ta…Nhà thơ là kẻ khiến ta thèm muốn  được sống dưới mái nhà của ông – nhưng mái nhà đó thì không biết đâu mà tìm.

  Notre Rimbaud, ce n’est pas lui,c’est nous-mêmes, voilà le vrai, c’est le vagabond que nous fu^mes en puissance, nous qui ne nous serons jamais évadé de la chambre bourgeoise où nous sommes né, où nous demeurons, où nous mourrons: c’est cela le mythe Rimbaud. … Que de fois l’avons-nous rencontré, ce Rimbaud-là, et nous sommes passé sur l’autre trottoir! Francois MAURIAC.

  Rimbaud của chúng ta chính là ta chứ không phải hắn. Kẻ hoang đàng đích thực nằm trong khả tính của chúng ta - những người không bao giờ trốn khỏi gian phòng tư sản nơi chúng ta sinh ra, cư ngụ và chết đi: đấy là huyền thoại Rimbaud… Bao nhiêu lần không biết chúng ta đã gặp hắn, gã Rimbaud ấy, và chúng ta đã lánh qua vỉa hè bên kia đường!

  De même que les Sociétés commencent par la poésie et finissent par elle, l’homme est recu dans ses bras et près de la tombe lui consacre ses derniers efforts et en recoit les dernières consolations et ses emotions les plus douces. Alfred de VIGNY

  Cũng như các xã hội bắt đầu và kết thúc bằng thi ca - được thơ đón vào vòng tay, con người khi gần xuống mồ cống hiến nỗ lực cuối cùng cho thi ca và nhận trở lại những an ủi chung cuộc cùng các xúc cảm êm dịu nhất.

( trích từ Sổ Tay Nhà Thơ , C.P. )

 

Đọc cho vui

Có bao nhiêu ‘ngày tận thế’ trong lịch sử nhân loại?

                          image

Không phải đến năm 2012 này, mà trong suốt lịch sử nhân loại, con người đã nhiều lần bị những phen “đứng tim” vì những tin đồn thất thiệt về cái ngày mà cả thế giới sẽ bị diệt vong hay người ta gọi đó là ngày tận thế. 

Cách đây hàng trăm năm, những trò đùa đến từ những quả trứng gà, chuyện sao chổi, chuyện về các UFO bay vào Trái đất hay những câu chuyện của sách Kinh Thánh, về sự tái sinh của Chúa hay những câu chuyện về thiên văn học đều có thể được thêu dệt thành điềm báo nhân loại sẽ bị hủy diệt.  
Tuy nhiên, rất may, thực tế những đồn đoán đó đều không trở thành hiện thực, đến năm 2012 này, chúng ta vẫn tạm an toàn khi sống trên hành tinh này và chờ đến ngày 21/12/2012 để xem những tin đồn về “ngày tận thế” có thực sự có thật? 
Câu chuyện về những quả trứng lạ năm 1806
Lịch sử có nhiều trường hợp đồn đoán về sự tái sinh của Chúa, điềm báo về ngày tận thế, nhưng kỳ lạ nhất có lẽ là tiên đoán về ngày tận thế ở một thị trấn nhỏ của Leeds, nước Anh, năm 1806.  
Tại đây, một con gà đẻ những quả trứng, trên đó có từ "Chúa tái sinh". Tin tức này lập tức lan truyền một cách mạnh mẽ, nhiều người đã tin rằng, Ngày tận thế đã sắp đến rồi. Mọi việc chỉ sáng tỏ cho đến khi chính quyền địa phương vào cuộc và phát hiện ra rằng đó là những dòng chữ do con người tạo ra.
Dự đoán của William Miller năm 1843-1844
Một nông dân tên là William Miller ở New England, Mỹ, sau nhiều năm nghiên cứu Kinh Thánh, kết luận rằng thời gian Đức Chúa Trời chọn hủy diệt toàn bộ thế giới có thể suy đoán được từ ngôn ngữ của kinh thánh.
Ông giải thích rằng, thế giới sẽ bị hủy diệt vào khoảng thời gian giữa 21/3/1843 và 21/3/1844. Ông đã đi truyền bá khắp nơi và xuất bản những cuốn sách về ngày tận thế, thậm chí đã lôi kéo được đến hàng ngàn người theo. Tất cả họ đã tham gia lập hội Millerites.  
Nhiều người trong hội đã bán hoặc cho đi tài sản của họ, vì nghĩ sẽ không cần thiết nữa. Thế rồi, ngày "tận thế" cũng qua đi mà Chúa Jesus lại không xuất hiện.   
Sự sống chấm dứt khi Trái đất đi qua đuổi sao chổi năm 1910
Khác với những lời đồn về sự tái sinh của Chúa, sự xuất hiện của sao chổi mang nhiều màu sắc khoa học viễn tưởng hơn.
Sự xuất hiện của sao chổi Halley từng được xem là điềm báo tai họa trong suốt lịch sử. Cứ 76 năm, con người có thể nhìn thấy sao chổi này một lần.  
Năm 1881, một nhà thiên văn học, thông qua phân tích quang phổ đuôi sao chổi, đã phát hiện ra một khí độc gọi là Xyanogen. Phát hiện này gây lo ngại cho nhiều người vì các nhà thiên văn cho biết, Trái đất sẽ đi qua phần đuôi của sao chổi Halley năm 1910. Nhiều lời đồn đoán cho rằng, tất cả mọi người trên hành tinh sẽ hít phải khí độc và sự sống của nhân loại sẽ chấm dứt.    
Tuy nhiên, cuối cùng, ngày tận thế cũng không đến.
Tiên đoán của Cơ đốc giáo năm 1914
Được mục sư Charles Taze Russell sáng lập vào năm 1872 tại Mỹ, một phái thuộc Cơ đốc giáo là Chứng nhân Jehovah đã từng tiên đoán rằng thế giới sẽ chấm dứt vào năm 1914. Tuy nhân loại vẫn tiếp tục sống sau cột mốc trên nhưng tiên đoán này không hoàn toàn sai lầm, bởi lẽ 1914 là năm bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất.  Những tín đồ của giáo phái này vẫn dự đoán rằng thế giới sẽ sớm đến hồi kết.
Dự đoán của mục sư người Hàn Quốc  – năm 1992
Năm 1992, một mục sư người Hàn Quốc có tên Lee Jang Rim, viết trong cuốn sách thuộc loại bán chạy “Đã đến gần ngày tận thế" (Getting Close to the End) của mình rằng: “Ngày 28/10/1992 là ngày tất cả tín đồ Ki-tô giáo đều được lên trời”, dẫn đến sự hỗn loạn trong xã hội Hàn Quốc.  
Ở thị trấn Wonju, một nhóm cuồng tín đã đốt đồ đạc ngoài đường phố và chờ để được Chúa đưa lên trời. Còn tại Seoul, 5.000 người bỏ việc, bán nhà, từ bỏ gia đình. Ít nhất 4 người tự sát trước ngày định mệnh. Tuy nhiên, cuối cùng cũng chẳng có chuyện gì xảy ra vào ngày đó.
Sự xuất hiện trở lại của sao chổi và UFO năm 1997
Năm 1997, khi một loại sao chổi khác mang tên Hale-Bopp xuất hiện, hàng loạt tin đồn nổi lên ăn theo sự kiện thiên văn này.
Trong đó, có việc dự đoán, tàu vũ trụ của người ngoài hành tinh sẽ ngụy trang và bám theo đuôi sao chổi để thâm nhập vào Trái đất và hủy diệt loài người.  
Lời lời đồn được củng cố khi vật thể bay không xác định (UFO) xuất hiện ở San Diego, Mỹ và được đưa tin trên báo chí.
Mặc dù điều phi lí này đã được phủ nhận hoàn toàn bởi các nhà thiên văn học và NASA nhưng nó vẫn được công bố trong chương trình radio “Coast to Coast AM” của Art Bell.
Tuy nhiên, một giáo phái tôn sùng UFO tại San Diego, Mỹ vẫn khẳng định chắc chắn rằng thế giới sẽ bị hủy diệt.  
Cuối cùng thế giới không kết thúc như dự báo và 39 người thuộc giáo phái này đã cùng nhau tự tử vào 26/3/1997, ngày sao chổi Hale-Bopp xuất hiện trên bầu trời.
Băng tan, Trái đất chìm trong nước và thảm họa năm 2000
Thời khắc chuyển giao thiên niên kỉ năm 2000 là "nguồn cảm hứng" cho rất nhiều lời đồn tận thế.
Trong cuốn sách “Thảm họa cuối cùng” được xuất bản năm 1997, nhà khoa học Richard Noone dự đoán ngày 5/5/2000, các hành tinh (gồm sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ cùng với mặt trời và mặt trăng) sẽ xếp thẳng hàng.
Theo phân tích của ông, vào ngày đó, cả thế giới sẽ chìm trong nước vì băng tan hoặc động đất và núi lửa sẽ xảy ra khắp nơi trên Trái đất, dẫn đến sự diệt vong của loại người. Tuy nhiên, Trái Đất vẫn nguyên vẹn sau ngày 5/5/2000 đó.
Dự đoán ngày tận thế theo công thức toán học năm 2011
Năm 2011, ở nước Mỹ đặc biệt là thành phố New York bỗng rộ lên tin đồn về ngày tận thế sẽ xảy ra vào ngày 21/5/2011.
Ông Harold Camping, 89 tuổi, Giám đốc Đài phát thanh Thiên chúa giáo và phụ trách trang web Family Radio khi đó dự đoán rằng, ngày 21/5/2011 sẽ là ngày tận thế theo một công thức toán học phức tạp từ những con số được lặp lại nhiều trong kinh thánh. Nhiều người tin vào điều này và đã tình nguyện mặc áo phông, cầm tờ rơi, áp phích đi khắp các đường phố để khuyên mọi người hãy tận dụng vài giờ còn lại.
Tuy nhiên, dự đoán của ông đã hoàn toàn sai khi ngày 21/5, Trái đất vẫn chưa “tận thế. Để "chữa thẹn" cho những đồn đoán sai của mình, ông cho biết, ông thực sự “kinh ngạc” khi ngày này qua đi mà thế giới vẫn nguyên vẹn và nói rằng, ông đã kiểm tra lại các lý thuyết mới và nói rằng Chúa đã ban phát cho con người thêm 5 tháng nữa, vì thế ngày tận thế sẽ là 21/10/2011.
Thế nhưng, cho đến nay, Trái đất chúng ta vẫn chưa hề hấn gì. Ông đã vấp phải sự chế nhạo và phản đối của rất nhiều người vì những đồn đoán nhảm nhí của mình.
Và theo những tin đồn gần đây nhất thì ngày 21/12 tới sẽ là ngày diệt vong của toàn nhân loại dựa theo sự kết thúc của lịch của người Maya.  Đó là thời khắc mà thời đại của chúng ta sẽ kết thúc để chuyển sang một thời đại mới. Ngoài ra, dự đoán về ngày tận thế 21/12 này cũng gắn với một sự kiện thiên văn học có thật khi trái đất và mặt trời sẽ sắp thẳng hàng với tâm của dải thiên hà.
Tuy nhiên, tất cả cũng vẫn chỉ là đồn đoán, cho đến nay chưa có bằng chứng khoa học cụ thể nào chứng minh những đồn đoán đó là có thật và chúng ta hãy chờ xem thực sự "ngày tận thế" có đến hay không.
 Theo VnMedia

Nhã Thuyên


Giấc mơ nước
tôi nhìn những móng tay nàng miệt mài và dai dẳng cào xới bãi đất hoang lì trơ sỏi tìm một dấu hiệu của mạch nước.
đêm đêm, giấc mơ của nàng về mạch nước ộc vào cơn ngủ của tôi, mạch nước biến hóa liên tục vị trí và hình dạng, tôi vẫn thấy nàng mê mải cào xới bãi đất hoang lì, nàng lổm ngổm trên bãi đất như một con cua, khom lưng, chúi đầu, mười ngón chân, mười ngón tay bật móng, những đầu ngón tròn trụi, tôi thấy nàng vô vọng và nàng chết vì kiệt sức.
một ban mai, tôi chứng kiến bãi đất bỗng phì nhiêu và không ngừng giãn nở phập phồng chất bột mịn và êm rùng mình.
nàng nói: dưới sâu vẫn không có nước, chỉ có những ảo tưởng nước, những ảo tưởng chảy tuôn và nuôi bãi đất cằn, nhưng phải cào xới không thôi.
11-2009
Tự nguyện
vì thế, tôi trở lại, đi miết một con đường, bởi người đã đặt vào tay tôi bông hoa tôi tìm kiếm.
người nói: "này em, đây chỉ là cái bóng của bông hoa em tìm, anh tặng em. và em là kẻ phải đi tìm nó...".
ngôn từ không làm nở bông hoa nhưng không hủy hoại cái bóng của nó.
cái bóng mang hi vọng của nguồn chiếu.
người đã lưu giữ cái - bóng - tôi như vòm trời giữ sắc xanh cuồng mê ảo tưởng dẫu cái - bóng - tôi khởi nguyên không màu.
tôi đứng ngợp mùa bội xanh độc quyền bầu trời.
vì thế, tôi trở lại, đi miết một con đường, làm nở hình hài bóng.
10-2009
Linh hồn chảy mịn
người chết về buồn bã phủ một vùng xám
đứa bé gặp cha run rẩy từng mạch máu thơ
tôi cùng người chảy mịn hai linh hồn
thảng thốt da thịt về trong da thịt đã bỏ hoang như mảng đất khô rạn hớp từng cơn nắng
máu lên thơm tươi trong tôi căng rạn chực nứt từng thớ từng thớ
tôi hốt hoảng tập quen da thịt đã lìa bỏ da thịt như cái chết của người bỏ lìa sự sống tôi
đứa trẻ đứng qua những đêm những đêm đợi những cơn mơ lên xanh như ánh sáng
và ngày trôi đi và người về thức canh tôi mơ trong đêm không thể ngủ đợi người về từ một cõi nơi thịt xương đóng băng
làm sao ép một kẻ - dương - gian phải coi chuyện sống chết là tất - nhiên - chia - lìa bởi tôi là thân cây mà mạch rễ tôi đã thúc sâu tận đáy nguồn suối khơi từ những linh hồn chảy mịn
tôi cùng người chảy mịn hai linh hồn
tôi được sống ký ức nhân nhân lên mãi của những người đã chết
ký ức đắp bồi thành da thịt và linh hồn lột sạch tôi từng lớp từng lớp đời sống bẩn thỉu
đứa trẻ không rơi nước mắt trên nấm mộ bởi tôi chẳng bao giờ tìm cách quên nỗi đớn đau mà tôi - sống - với
day dứt dội sóng đổ không thôi vào những đêm trên biển cả tối như vực đen của trí óc ngây thơ sửng sốt trước đời người
ngày và ngày và đêm và đêm đứa trẻ đứng đây đợi những cơn mơ lên xanh như ánh sáng hốt hoảng nhìn tôi - kẻ luôn luôn trở lại nhìn mình đứng mãi như một thú hoang
hãy khẩn khoản và uống cho say lịm để sống tươi thơm
nao nức sống đến! kìa những linh hồn cùng chảy mịn!

Nguyễn Quang Thiều bơi lùi về quá khứ



 
một bài tập làm văn
 
H đang về nhà
 
Phía trên những vòm lá bất ổn
Treo một bầu trời
Những con chim vừa bay
Vừa xé rách những lông vũ
 
Và một con khóc
Và một con không đập cánh
Trôi tựa đám mây theo chiều gió
Và một con khác ngủ
Và con bay cuối đàn
Không nói gì
 
H của một chiều tháng 6
Quá nhiều bệnh viện trong ký ức
Câu chuyện của những cái xác trong nhà xác
Đang tập đánh vần một cái tên
 
H đang qua ngã tư
Chỉ còn một bước chân cuối cùng
Sẽ sang bên kia đường
 
Chợt con bay cuối đàn biến mất.
 
Và không nhìn thấy H.
 
 
0h17 phút
 
1. nhớ con chuột tri kỷ của những đêm hoang tàn và trống rỗng
chạy men theo hè phố lúc một giờ sáng
kẻ lạ mặt dùng ánh mắt thích dòng chữ vô hình lên trán
và tôi trở thành kẻ bị lưu đày trong giấc mộng chính mình
 
2. đứa trẻ đái ướt sũng tóc tôi rồi bỏ đi
vẽ vào bóng tối một vệt trắng nguệch ngoạc
 
3. Phấn ngồi bất động dưới bóng của một cái cây ngôn từ
một đám mây những con bướm lấp lánh bay quanh
Như một cậu học sinh trốn lại lớp sau giờ tan học
Phấn đang xoá hết những chữ quen thuộc trên tấm bảng đen
để tìm một từ vựng
Có khả năng làm trống rỗng tất cả
 
4. Hải Phòng đang chìm. Ôi Hải Phòng…
 
5. H khóc ở đâu đấy. không làm sao tìm được đôi mắt của H
Như những hạt giống chứa chiếc mầm ánh sáng
Gieo trên cánh đồng mù
Đang tìm cách phá vỡ những cái vỏ
 
6. Một tiếng gọi từ vùng thẳm sâu không có những cái miệng
Phấn từ từ đứng dậy vươn hai cành cây
Treo đầy những chùm quả tinh khiết
 
7. Một tấm lưới khổng lồ trôi trên những nóc nhà
Và một con Sơn ca đánh mất giọng nói
rúc sâu trong da thịt chúng ta.
 
 
17h 43’
 
Khi  ngước lên thời gian đã biến mất
Nhưng tên bài thơ vẫn còn
Chẳng ghi lại điều gì trọng đại
Cả một ký ức buồn cũng không
Chỉ cảm giác một quen thuộc trôi nhẹ
Trên chiếc xe đẩy tróc sơn
 
H không thể nào rút chân ra nổi chiếc giày ám ảnh của mình
Một thói quen kích động H
Chiếc kim giây vừa chém một đường
Làm đứt buổi chiều này
Và một giọt máu
Từ từ đầy tròn
Như một nụ hoa sắp nở
 
 
nhật ký ghi dưới gốc cây gần quảng trường
 
Có một bài thơ tôi viết
Trong bóng tối
Của thành phố này
 
Đấy không phải là đêm
Tôi vẫn nhìn thấy những đám mây nặng
Bò trên những mái nhà thành phố
Và vẫn nhìn thấy
Một người đàn bà
Tắm trong một toilet không có rèm che
Kỳ cọ như tuốt hết da thịt mình
Và vẫn nhìn thấy
Cuộc làm tình ban ngày
Của những kẻ thất nghiệp
Trong chính công sở của họ
Và vẫn nhìn thấy
Nơi ngã tư một chiếc xe tải
Cán nát một cô gái
Nhưng bó hoa cô cầm trên tay
Vẫn nở nốt bông cuối cùng
Và vẫn nhìn thấy
Linh hồn những người đã chết
Xếp hàng trước cổng trụ sở Tòa án thành phố
Và vẫn nhìn thấy phía khuất con đường
Một người đàn bà băng qua
Với một cái bụng lớn
Chứa một đứa trẻ không rõ mặt
Và vẫn nghe rõ
Một tiếng nổ
Và nhìn thấy viên đạn
Chầm chậm khoan thủng một cái đầu
Bên cạnh
 
 
10h13’
 
Không có lý do gì cho sự ra đời của một bài thơ
Nhưng bài thơ đã bắt đầu viết
Bằng chữ đầu của một cái tên
Thường tuyệt vọng khi đi qua nơi này
 
Một ô cửa rụt rè mở
Và một tiếng rạn vỡ đâu đấy
Trên da thịt không ướp lạnh của H
 
H ngủ muộn. 10h13 phút chưa dậy.
Những sự sống trôi qua chiếc giường.
Những cái chết trôi qua chiếc giường.
Và H nhìn thấy trong giấc ngủ
Một tấm thân đàn ông nóng rừng rực
Trôi qua chiếc giường và dừng lại
ở một khoảng trên đầu
 
lúc 10h13 một người đàn bà khác
khỏa thân trong một chiếc giường
đặt ở giữa thành phố
bên một cái chết mặc trang phục Đại lễ
 
 
một ghi chép tháng Sáu
 
Vuông vải trắng khổng lồ trùm kín chúng ta
Ai đó tìm cách xé rách
 
Những con ong hợp kim sục vòi
Tìm kiếm chút mật
Trong những thân thể hoảng loạn
Chúng ta đang thuộc về một ngày cuối tháng 6
 
Một đám mây bay ở rất xa
Cất tiếng gọi
 
Chúng ta biết làm gì lúc này
Cuộc ái ân không thể kéo dài
Cuốn sách đã đọc hết
Đặt giữa chúng ta một chiếc bàn không có mặt bàn
 
Một đám mây bay ở rất xa
Cất tiếng gọi
 
Nhưng chỉ có một người trả lời
Với cái miệng giàn dụa
Thức ăn của bữa trưa
 
 
những con mồi
 
Đêm qua những con cá bơi quanh chiếc giường
Ngửi chúng ta rồi bỏ đi
Và bực dọc nói:
Chúng ta không bao giờ ăn những con  mồi  chết
 
Chúng ta có chết không ?
Một người thức giấc hỏi.
Nhưng chẳng có câu trả lời nào.
Ngoài bóng một bác sỹ tâm thần ghi bệnh án
In trên bức tường phía đông
 
Trên đầu chúng ta những con cá
Bơi lùi về qúa khứ
Chúng muốn xem lại hồ sơ những chiếc lưỡi câu
Nhưng chỉ còn lại một nhà kho mục nát
Trong đó một chiếc đồng hồ
Chạy từ lúc chúng ta chưa biết đền thời gian
 
Giữa bất tận những con mồi
Bầy cá nhắm mắt
Chỉ mở ra khi nghe lệnh
Nhưng một con không chịu nhắm mắt
Trong suốt cuộc săn tìm
Rời bỏ bầy quay lại
Và nói với một con mồi :
Ngươi đã hết thời gian chết
 
 
0h7’
 
Chạy kiệt sức không ra khỏi cơn đau đầu
Tôi mơ trở về khu vườn ở Dedham tôi mơ chìm trong cỏ
những con bướm tháng Tư bay rợp mặt
 
Luôn luôn một hơi thở gấp phía sau
Nhưng không bao giờ lên tiếng
Đúng giờ phút này áp chặt vào ô kính một tấm thân trần truồng
Như ai đó dán một tờ giấy trang trí
Một tấm rèm bằng da người
 
Một ngôi sao phía xa
mặt chiếc nhẫn của H
Không. Đốm lửa đầu điếu thuốc
Tôi đang hút in trên kính.
 
Nhận ra không phải cơn đau đầu
Ai đó đặt một cái đầu nặng hơn
Vào trong đầu tôi
Và một cái đầu khác nặng hơn nữa
Vào trong cái đầu vừa đặt

 
lịch sử một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ
 
Người hướng dẫn: Được dệt thủ công bởi một người đàn bà mù Thổ Nhĩ Kỳ
Người mua: Mua lại từ một ông già da đen Cuba ở Havana năm 1986
Chủ nhân: Quà tặng của con trai tôi. Được treo trên bức tường này 21 năm.
 
Lúc gần sáng tiếng những cành khô gãy
Những con nai cái mùa động đực
Chủ nhân bức thảm 87 tuổi tỉnh giấc uống trà nguội
Những con nai đực ngùn ngụt
Ngôi nhà như không bao giờ mở cửa
Một bà già đi tiểu lần thứ 5, nói:
“Mẹ đau lắm”
 
21 năm tấm thảm không thay đổi chỗ treo
Người đàn ông 50 tuổi thường trở về và đứng
Trong ngôi nhà nửa bóng tối
Tràn ngập tấm thảm tiếng hô hoán
Và phía sau tấm thảm
Một lưỡi dao lạnh lùng đợi
Và một cái chảo sùng sục sôi
 
Người hướng dẫn: Những ngón tay người đàn bà mù Thổ Nhĩ Kỳ giờ bị liệt
Người mua: Ông già da đen Cuba đã tự vẫn
Chủ nhân: Tôi chỉ nhớ gương mặt con trai tôi khi nó mở bức thảm ra
 
Có một người lúc nào cũng rét
Đứng nhìn tấm thảm
Hai bàn chân bị đông cứng trong vũng máu
Ở chân tường
 
Người hướng dẫn: (đã bỏ nghề)
Người mua: Hình như không phải tấm thảm tôi đã mua
Chủ nhân: Tôi nhìn thấy những người thân đã chết chạy nấp sau những gốc cây trong tấm thảm
 
Bây giờ là năm thứ 22.
                      (Trích từ tập thơ Cây ánh sáng)

Mai Văn Phấn


Nhớ Hà Nội

Có một chiều nao Hà Nội
Cất lên từ ngực biển đầy
Cả dấu chân em ngày ấy
Mắc vào tấm lưới anh vây.

Như vừa vang trong lòng tay
Lối cũ động thềm sấu rụng
Tiếng chim treo vào heo may
Trong lá khô rơi còn ấm.

Hồ Gươm tựa ngày biển lặng
Tháp Rùa đứng đó buông neo
Mặt người thành mây soi bóng
Nỗi buồn biêng biếc rong rêu.

Hà Nội ơi! Một cánh diều
Thả bằng sợi dây thương nhớ
Níu nghiêng cả mặt biển chiều
Nước dâng dạt dào sóng vỗ.



Tự thú trước cánh đồng

Như vừa mở được chiếc hũ nút
Bóng tối tràn tím rạng đông
Sấp mình tựa lũ bướm đêm
Ôm những giấc mơ, mơ cùng hạt giống.

Những hạt giống vừa chạm vào ánh sáng
Đã gặp những gì chẳng thấy trong mơ
Rơm rạ mục dâng lên từ đất ẩm
Gió xước qua bụi gai trong lúc giao mùa.

Ngày mới đến đưa bàn tay nắng ấm
Để lấy đi những hạt cuối cùng
Tôi chếnh choáng rỗng không chiếc hũ
Đợi những mùa vàng rạo rực hiến dâng.


Bài ca buổi sớm

Anh mơ được em gieo trồng trên ngực
Bàn tay dịu dàng vun vào da thịt
Hôn lên tai anh lời chăm bón thì thào
Anh cựa mình nồng nàn tơi xốp.

Gió sẽ đến vỗ về từng chiếc lá
Lật phía bên kia che cơn bão đang về
Rồi mùa đông em phủ lá vàng lên mặt
Nỗi ưu phiền mục ra trong lấm chấm mưa xuân.

Từng giọt mát lành thấm nhuần trong đất
Tươi từ môi anh đến gót chân em
Anh ngỡ mình được phép lành thánh thể
Đêm vừa qua hay đã mấy nghìn năm.



Thương em

Em nói bâng quơ: Mùa xuân rồi cũng tàn!
Anh ghì lấy bao nỗi lo toan đôi vai em gày nhỏ
Có bông hoa ngạc nhiên vừa bò ra mép nước
Con chuồn chuồn bay lên trên mặt sóng mơ hồ.

Anh phân vân không biết nên nhập vào con chuồn chuồn hay bông
hoa ngơ ngẩn nhường kia
Nỗi lo toan ơi! Nỗi lo toan sao mà bay bổng thế!
Em có thấy anh nhẹ như cánh chuồn hay cánh hoa không nhỉ?
Anh hỏi đôi vai em thôi mà, em cần gì phải thưa!