(Đôi nét về cuộc đời và tác phẩm)
Nguyễn Thanh Huyền ghi
- Quê nội tôi ở làng Vũ Thạch, huyện Thọ Xương, Hà Nội cũ. Nhưng tuổi nhỏ của tôi lại gắn với một vùng cao Bắc Lào, tại Phong Saly, giáp Trung Quốc và cũng không xa Mianma. Vì cha tôi hồi bấy giờ làm trưởng trạm bưu điện ở đó. Thời Pháp thuộc, Phong Saly được gọi là đạo quan binh thứ 5 của Đông Dương. Dân địa phương là người Phù Nọi, sống còn khá cổ sơ và theo đạo Phật.
Người Việt Nam ở nơi xa xôi ấy chỉ có lính khố đỏ trên đồn binh và tù khổ sai đưa lên làm đường. Tôi còn nhớ chiều chiều, khi trên đồi thổi tò te thì hàng dài tù khổ sai từ phía núi đi về, chân bị xiềng, bước xủng xoẻng. Tôi lớn lên ở nơi núi rừng đó. Những lần vui nhất là chạy theo các bà Phù Nọi, tới một vách đồi có thứ đất đỏ khô bùi, lũ trẻ chúng tôi nhặt đất mà ăn cùng với các bà. Và những lần chạy theo bóng áo cà sa vàng của các ông sư, nghe tiếng cồng chiêng hiền hậu ngân dài theo đám rước… Phương tiện đi lại chủ yếu là ngựa, ngoài ra người ta chỉ đi bộ. Mỗi lần bà mẹ tôi có việc về nước, phải đi ngựa mất một tháng về Lào Cai, sau đó đi xe lửa về xuôi. Tôi sống như những trẻ con dân tộc thiểu số, sông suối, rừng núi – đó là những hình ảnh đã thấm vào lòng mình từ nhỏ…

Năm tôi lên 6 tuổi, cha tôi được đổi về nước làm ở bưu điện Hà Nội. Gia đình tôi tìm chỗ ở thuê khá vất vả. Lúc ở khu Bạch Mai, khi Nhà Rượu rồi về Hàng Đậu. Tôi được cắp sách đến trường tiểu học Đỗ Hữu Vị, gần hồ Trúc Bạch, nay là trường Việt Nam – Cuba. Mấy năm ấy, tôi trở thành chú bé Hà Nội. Đất quen thuộc của tôi là những bãi cát ở gầm cầu sông Hồng, những ngõ phố từ bờ sông qua Hàng Tre, Ô Quan Chưởng, rồi Cửa Đông, Cửa Bắc… Khu phố cũ Hà Nội ấy, sau này khi tôi viết tiểu thuyết, đã là nơi ở của anh Tư trong truyện.