Saturday, June 29, 2013

Kỉ niệm Sài Gòn


TQ 'di dời 2 triệu người Tây Tạng'

Cập nhật: 09:39 GMT - thứ bảy, 29 tháng 6, 13

HRW nói nhiều quan chức của Đảng Cộng sản đang trú ngụ tại các làng người Tây Tạn
Hơn hai triệu người Tây Tạng đã bị chính phủ Trung Quốc ép di dời trong bảy năm qua, báo cáo mới của Human Rights Watch cho biết.
Nhiều người, trong đó có hàng trăm nghìn người du mục, đã bị ép phải vào sống trong những "làng xã hội chủ nghĩa", tổ chức này nói.
Động thái này là bước đi mới nhất của chính phủ Trung Quốc nhằm thắt chặt sự kiểm soát chính trị đối với nguời Tây Tạng, HRW bình luận.
Trung Quốc đã bác bỏ các cáo buộc cưỡng chế, trong bối cảnh có tin nói lệnh cấm tôn thờ Đức Dalai Lama ở một số nơi đã được nới lỏng.
Tuy nhiên BBC chưa thể xác nhận tin nói rằng các Phật tử ở vùng người Tây Tạng tại Trung Quốc được phép công khai tôn thờ vị lãnh đạo tinh thần của mình cũng như tin nói rằng họ được phép treo chân dung của ông.
Kiểm soát chặt chẽ
Hình ảnh từ Google Earth được HRW công bố dường như cho thấy sự phá hủy hàng loạt nhà cửa và thay vào đó bởi từng hàng nhà mới.
"Chính phủ đã bắt đầu cử những đoàn quan chức trong Đảng Cộng sản đến từng ngôi làng thuộc Khu Tự trị Tây Tạng," ông Nicholas Bequelin, nhà nghiên cứu về Châu Á của HRW giải thích.
"Những người được cử đến các ngôi làng này đã được chỉ đạo để sống chung với dân làng và theo dõi quan điểm chính trị của họ nhằm xác định ra những người nào bị nghi không trung thành với Đảng hoặc chính phủ."
Chính phủ Trung Quốc đã liên tục nhấn mạnh rằng việc đổ hàng tỷ đôla vào Tây Tạng là để thúc đẩy kinh tế và cải thiện đời sống nơi này.
Tuy nhiên, xung đột vẫn ở mức độ rất cao. Trong vòng bốn năm qua, ít nhất 117 người Tây Tạng đã tự thiêu để phản đối sự cai trị của chính quyền Trung Quốc, trong đó có 90 trường hợp tử vong.
Nhiều người Tây Tạng phẫn nộ trước việc di dân của người Hán vào đất Tây Tạng và sự hạn chế tự do tôn giáo của Đảng Cộng sản.
Đáp lại điều này, chính phủ Trung Quốc đã tăng cường giám sát toàn bộ cao nguyên Tây Tạng. Tại các thành phố, nhà cầm quyền có dấu hiệu đang theo dõi chặt chẽ những người có khả năng gây phiền toái bằng cách chia nhỏ các khu dân cư dọc theo hệ thống mạng lưới.
Hệ thống an ninh mới này được thiết lập để theo dõi chặt chẽ diễn biến trên đường phố nhằm ngăn chặn sự lặp lại những cuộc biểu tình quy mô lớn ở thủ phủ Lhasa hồi tháng Ba năm 2008.
Thêm vào đó, theo báo cáo, khoảng 300 nghìn người du mục đã bị di dời và bắt định cư từ đầu thập niên 2000. Cũng có tin nói nhà cầm quyền công bố ý định muốn bắt thêm 113 nghìn người nữa định cư vào cuối năm 2013.

Các khu làng Tây Tạng trước và sau khi tái xây dựng
Tự do thờ phụng?
Trong một diễn biến khác, một số Phật tử ở Tây Tạng nói giờ đây họ được công khai thờ phụng vị lãnh đạo tinh thần đang sống lưu vong, Đức Dalai Lama, theo đài RFA.
Trong một động thái nhằm thử nghiệm sự thay đổi trong chính sách, một số ngôi đền đã được phép treo chân dung của Đức Dalai Lama và không ai được phép chỉ trích ông.
Phật tử Tây Tạng được phép tôn thờ vị lãnh đạo tinh thần của mình chỉ với ý nghĩa tôn giáo, không phải chính trị, các nguồn tin nói với RFA.
Nếu sự thay đổi trong chính sách này có thật, điều này có thể cho thấy sự nới lỏng đáng kể trong thái độ của Đảng Cộng sản đối với Dalai Lama.
Nhiều năm nay, nhiều quan chức cao cấp Trung Quốc đã làm các Phật tử Tây Tạng phẫn nộ vì lăng mạ Đức Dalai Lama.
Người từng là Bí thư Tây Tạng cho đến năm 2011, Trương Khánh Lê, từng gọi vị tu sĩ là "con chó sói trong áo nhà sư".
Tuy nhiên, không rõ có thực sự đang diễn ra thay đổi chính sách hay không.
Một số nhà phân tích cho rằng nếu đây là sự thật thì cũng chỉ vì nhà cầm quyền đã thất bại trong việc cấm thờ phụng Đức Dalai Lama cũng như việc sử dụng hình ảnh của ngài tại các đền thờ.
BBC đã liên lạc với Cục Tôn giáo Nhà nước Trung Quốc để lấy lời bình luận về sự thay đổi chính sách tuy nhiên bị từ chối.
Người phát ngôn của Chính quyền Trung ương Tây tạng, tức chính phủ Tây Tạng đang lưu vong ở Dharamshala, Ấn Độ, nói ông có nghe về việc thử nghiệm chính sách mới, nhưng không thể kiểm chứng.
"Những nguồn tin như vậy, dù có thật, cũng là tin với quy mô địa phương," ông Tashi Phuntsok, thư ký ủy ban thông tin và đối ngoại của chính phủ lưu vong Tây Tạng nói.
"Có thể một số khu vực đã tiến hành chính sách mềm mỏng hơn để ngăn những cuộc tự thiêu."
"Tôi đã đọc thấy những tin tương tự trên mạng," một nhà sư tại khu tự trị Ganzi thuộc tỉnh Tứ Xuyên nói với BBC qua điện thoại.
"Tôi không biết tin này có thật hay không. Nhưng chắc chắn điều này không xảy ra ở đây."
Một nhà sư khác ở khu Tự trị Aba, Tứ Xuyên, nơi đã diễn ra nhiều vụ tự thiêu, cho biết: "Tôi không được biết tin này. Tuy nhiên chúng tôi không thể treo hình Đức Dalai Lama trong đền thờ cũng như tôn thờ ông một cách công khai."
"Chúng tôi chỉ có thể làm điều này trong bí mật," người này nói.

KHỔNG TỬ Anne Cheng


                                           KHỔNG  TỬ,  SỰ PHẢN PHỤC BẤT TẬN
                                                                  Anne  Cheng

LỜI NGƯỜI DỊCH

  Nguyệt san Le Monde Diplomatique, tháng 9-2012, tập hợp một số bài viết cho chủ đề DOSSIER:PÉKIN, POUVOIR SECRET, PUISSANCE MONDIALE (Hồ sơ: Bắc Kinh, Quyền hành bí mật, Thế lực toàn cầu), trong đó có bài chính luận ngắn CONFUCIUS, l' Éternel Retour của Anne CHENG về sự phục hồi Khổng tử và Nho giáo ở Trung Quốc hôm nay. Là giáo sư về lịch sử tư tưởng Trung Hoa tại Collège de France, đồng thời là học giả hàng đầu ở Paris về Khổng tử và Nho học (bản dịch Luận Ngữ sang tiếng Pháp của bà là tài liệu tham khảo đáng tin cậy hiện nay), Anne Cheng cảnh giác về sự lợi dụng Khổng giáo ở Trung Quốc và một số nước Á Đông hôm nay như một công cụ cai trị để ổn định hóa các xã hội đang bị sự biến động của kinh tế thị trường làm xáo trộn mạnh.
Chưa kể sự thương phẩm hóa dễ dãi học thuyết và kinh sách làm hư hại phần tích cực và tính chất phê phán quyền bính trong tư tưởng Khổng Nho.                        
                                                                                                               Chân  Phương



Tại sao Khổng tử vẫn trở đi trở lại mãi trong bối cảnh Trung Hoa hôm nay? Làm sao giải thích sự kiện một bậc thánh hiền cổ đại sống vào thế kỷ thứ 5 thứ 6 trước Công nguyên hai nghìn năm trăm sau lại mang một giá trị biểu trưng ở Trung Quốc của thế kỷ 21, một nước đang vươn nhanh về quyền lực kinh tế và địa lý-chính trị giữa một thế giới toàn cầu hóa?

   Có cần nhắc rằng tên gọi CONFUCIUS là sự la tinh hóa hán tự của Kongfuzi ( Khổng phu tử - “Maitre Kong”) do các nhà truyền giáo jésuites - những người đầu tiên giới thiệu ngài với giới thượng lưu châu Âu. Căn cứ vào các nguồn của Trung Hoa cổ đại, thầy Khổng đã dành cả đời giáo huấn cho một nhóm môn đồ các thuật tu thân trị quốc theo tinh thần của lễ nghi và nhân nghĩa. Sau khi nhà Tần thống nhất không gian Trung Hoa vào năm 221 trước CN, giáo thuyết cũng như một số kinh sách gắn liền với tên tuổi ngài đã được vận dụng để xây nền đắp móng ý thức hệ cho trật tự của đế chế mới. Từ đó, và cho đến đầu thế kỷ 20, hình tượng Khổng tử cũng đã nhập chung với định mệnh của đế triều Trung Hoa, đúng cho đến mức trở thành biểu trưng tuyệt hảo (l’emblème par excellence) cho bản sắc trung hoa hôm nay. Ít ra nó đã được phương Tây cảm nhận như thế, và cũng vậy được Trung Hoa đại lục trình bày, tôn vinh, gần như biến thành công cụ.

   Người ta hầu như quên mất những điều bỉ cực mà hình tượng này phải chịu trong thời hiện đại ở Trung Hoa, đã khiến nó trải qua một thế kỷ tàn phá giữa các năm 1860 và 1970. Thật vậy, từ cuộc chiến nha phiến lần thứ hai (1856-1860) hiện hình một bước ngoặt lịch sử khiến giới ưu tú Trung Hoa ý thức được tính ưu việt của các thế lực phương Tây, rốt cuộc đưa đến cố gắng (sẩy thai) cải tổ chính trị đầu tiên năm 1898 theo kiểu Minh Trị bên Nhật(1). Kéo theo một loạt các khủng hoảng đầy kịch tính vào đầu thế kỷ 20: việc dẹp bỏ vào năm 1905 cả một hệ thống khoa cử quan trường khét tiếng (2), nền móng nhiều đời của đế chế, vừa đánh dấu bước đầu của quá trình “thế tục hóa” hiện đại theo lối Trung Hoa. Rồi vài năm sau nhà Thanh Mãn châu, và cùng với nó là cả chế độ đế triều, sụp đổ tiêu tan để nhường chỗ cho nền cộng hòa thứ nhất của Trung Hoa do Tôn Dật Tiên  đề xướng. 

   Về mặt tượng trưng, vụ khủng hoảng đã để dấu ấn sâu đậm lâu dài trong trí óc là cuộc vận động Ngũ Tứ (4-5-1919), khủng hoảng này phản ánh những bất bình của các nhà trí thức phải vật lộn với thực tế nhục nhã của đất nước Trung Hoa. Họ cho rằng tính hiện đại chỉ có thể định nghĩa bằng các tên gọi của phương Tây như khoa học và dân chủ, và cần thiết phải “đạp đổ Khổng tử”, kẻ chịu trách nhiệm đối với mọi tật bệnh của nước Trung Hoa, kể cả sự lạc hậu về vật chất lẫn tinh thần. Để tìm ra một chủ nghĩa hiện đại kiểu phương Tây, những kẻ đả phá truyền thống trong phong trào Ngũ Tứ có xu hướng suy luận như cách phân tích mác-xít, và tống tiễn Khổng giáo vào “ nhà bảo tàng lịch sử”

  TỪ MAX WEBER ĐẾN MAO,
                            THẦY KHỔNG BỊ KẾT ÁN BẢO THỦ

Vào bước ngoặt những năm 1920, một cách chẩn đoán khác cũng từ phương Tây còn kết án Khổng giáo một cách quyết liệt hơn: đó là sự định bệnh của nhà xã hội học Đức Max Weber khi mối quan tâm của ông là chỉ ra những kích thước ý hệ trong các căn nguyên của chủ nghĩa tư bản phương Tây (theo ông là đạo lý Tin Lành). Cho rằng đã nhận diện được những điều kiện vật chất khả dĩ khai sinh chủ nghĩa tư bản ở Trung Hoa, Weber đi đến kết luận: điều này đã không diễn ra là do các yếu tố ý hệ, đứng đầu là Khổng giáo. Thế thì dẹp bỏ một lần cho xong cái khối nặng ù lì đó là điều kiện quyết định để  bước vào tính hiện đại phương Tây.

   Một thế hệ sau 1919, với thời điểm ai cũng biết là năm 1949, khi xung đột Hoa-Nhật và cuộc nội chiến chấm dứt đánh dấu sự thành lập nền Cộng hòa Nhân dân bởi những người cộng sản với sự tháo chạy của chính quyền quốc gia ra Đài Loan cùng một số trí thức thù nghịch với chủ nghĩa mác-xít. Từ vị thế lưu vong, nhóm người này lo âu theo dõi sự diễn biến của Trung quốc thời kỳ Mao. Với cuộc “đại cách mạng văn hóa vô sản” do Mao khởi xướng năm 1966 (  rồi mười năm sau tắt ngấm khi Mao chết năm 1976), Trung quốc đã trải qua cái họa hủy diệt đến tận cùng như một dạng cực đoan hóa triệt để phong trào Ngũ Tứ, đáng nói nhất là quyết tâm xóa sạch các tàn tích xã hội truyền thống của cuộc vận động này.

   Sau một thế kỷ tàn phá di sản Khổng Nho, cục diện đã đảo lộn trong vòng ba mươi năm gần đây. Từ những năm 1980 trở đi ta thấy một sự lật ngược ngoạn mục với các dấu hiệu đầu tiên dấy lên từ ngoại vi quanh Trung Quốc đại lục. Từ cương vị của vật cản không thể bứng đi, Khổng giáo chuyển thành động cơ chính của hiện đại hóa. Căn nguyên của việc đảo hoán này không dính dáng nhiều đến học thuyết Khổng Nho mà đến từ một tình huống lịch sử và kinh tế chưa từng thấy: sau mười năm Cách mạng Văn hóa, mô hình cách mạng cộng sản bị vứt bỏ de facto ngay tại Trung Quốc trong lúc ở vùng ngoại vi người ta chứng kiến sự nhảy vọt kinh tế không ngờ của bốn “con rồng” (Đài Loan, Hương Cảng, Singapua, Nam Hàn) theo vết Nhật Bản. Như vậy, những “biên địa của đế triều” cùng lúc với những “giá trị Á Đông” mà các nước này giành lấy lại được phóng chiếu vào một giá trị trung tâm đặc trưng (une centralité exemplaire) và trở thành đối tượng của mọi sự chú ý, đặc biệt là phương Tây.

   Quả nhiên vào lúc chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc và đồng thời tại Đông Âu rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng, các xã hội tư bản phương Tây cũng nhận ra những tín hiệu cho thấy sự phát triển của chính họ đang suy thoái. Trong khung cảnh đó, các ‘giá trị Khổng Nho” (tầm quan trọng của gia đình, sự tôn kính đẳng trật, nỗi khát vọng học hỏi, thói vùi đầu vào công việc, tính cần kiệm,v.v.) dùng để biện giải cho sự vươn lên của một dạng tư bản chủ nghĩa Á đông đặc thù đã đến đúng lúc để đưa ra phương thuốc chữa trị chứng suy yếu của mô hình hiện đại phương Tây bằng cách vượt lên bỏ lại nó phía sau.

  
                CƠ HỘI PHỤC HẬN VINH QUANG
                            ĐỐI LẠI ƯU THẾ THƯỢNG ĐẲNG CỦA PHƯƠNG TÂY


    Phải truy tìm từ hoàn cảnh thế giới cái yếu tố gây ra sự đảo ngược trong những năm 1980;  và tâm điểm của nó không nằm trong các xã hội Trung Hoa đúng nghĩa mà nằm ở những khu vực người Hoa đã Tây phương hóa và nói tiếng Anh tại Singapua và Hoa Kỳ. Vào giữa thập niên 80, nó lây nhiễm sang nước Trung Quốc đang bận thanh toán di sản Mao-ít và cũng rất muốn bám theo các toa tàu của chủ nghĩa Á Đông để rốt cục tiến lên hàng đầu. Khổng giáo sau nhiều thế hệ bị khinh bai, thậm chí đền miếu kinh sách bị đốt phá bởi cao trào bạo lực trong Cách mạng Văn hóa vừa kết thúc, lại trở thành đối tượng trong cuộc hội thảo đầu tiên vào năm 1978 nhằm phục hồi nó. Kể từ ngày đó, không năm nào không diễn ra nhiều cuộc hội thảo quốc tế về đề tài này. Năm 1984, một Fondation Khổng tử được thành lập ở Bắc Kinh dưới sự bảo trợ của những quan chức cao cấp nhất trong đảng. Năm 1992 lúc đi tham quan các tỉnh phía Nam, Đặng Tiểu Bình đã nêu Singapore của Lý Quang Diệu như kiểu mẫu cho Trung Quốc vào thời điểm ông ta tung ra chính sách “kinh tế thị trường kiểu chủ nghĩa xã hội”. Một cách trớ trêu, những yếu tố theo Max Weber đã gây trở ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản lại chính là những điều giúp cho các xã hội Á Đông tránh được những vấn nạn của xã hội phương Tây hiện đại. Đối lại ưu thế thượng đẳng của phương Tây, đây là cơ hội cho một sự phục hận đầy vinh quang  được mong đợi ít nhất là từ một thế kỷ qua ở Trung Quốc  cũng như ở một số nước khác trong vùng.

   Việc trở lại với Khổng giáo thật ra không ăn nhập gì lắm với thị trường, chính sách này phục vụ những mục tiêu chính trị của các nhà lãnh đạo chuyên quyền ở Singapore, Bắc Kinh, Seoul phải đối phó với sự tăng tốc đột ngột của phát triển kinh tế trong khi các cơ cấu xã hội-chính trị không bắt kịp. Họ thấy tiện lợi khi mượn lại “các giá trị Khổng Nho” để phục vụ cho mình, chúng đảm bảo sự ổn định, kỷ luật và trật tự xã hội đối lại với phương Tây đang suy thoái vì quá bám chặt vào chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa hưởng lạc. Trong đường lối tân chuyên quyền này (néo-autoritarisme), các nhà ý thức hệ mác-xít và chống mác-xít cùng gặp nhau ở một điểm chủ yếu: thay cho các hình tượng của chủ nghĩa xã hội không theo phương Tây mà óc không tưởng Mao-ít đã cố nhồi nhét là nỗi khao khát đạt đến sự hiện đại công nghiệp dưới danh hiệu “ hậu hiện đại”, luôn luôn không cần đến phương Tây.

   Vụ khủng hoảng tài chính năm 1997 ít nhiều đã làm dịu bớt cơn sốt của Confucius economicus ( Khổng tử nhà kinh tế), nhưng sự trở lại của vị thầy cổ kính không vì thế mà bị ngăn cản, ngược lại là đằng khác. Từ chục năm qua ( nói tượng trưng là từ ngày bước vào thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ ba), sự diễn tiến mang hình thái một chùm hiện tượng  kết lại với nhau rất phức tạp, chúng len vào mọi tầng cấp xã hội và chạm đến toàn bộ Trung Quốc đại lục. Trong lĩnh vực chính trị, điều ưu tiên của các nhà lãnh đạo hiện nay là giữ vững sự ổn định xã hội để tạo điều kiện tốt cho tăng trưởng kinh tế về lâu dài. Năm 2005, chủ tịch Hồ Cẩm Đào tung ra chỉ thị mới của ông ta ,” xã hội thuận hòa theo hướng chủ nghĩa xã hội”, tiếp theo những hiệu lệnh khác mang nội hàm Khổng Nho rõ rệt dù không được minh định công khai: lý tưởng về “xã hội phồn thịnh tương đối” của Đặng Tiểu Bình hay là “dùng đức trị dân” của Giang Trạch Dân. Khi lục soạn trong các kho sách về thuật điều hành xã hội của Khổng Nho, họ cũng muốn đề suất một giải pháp thay thế nền dân chủ tự do theo mô hình phương Tây. Ngày nay, chỉ cần gọi tên Khổng tử - có liên hệ mặc nhiên đến sự thuận hòa (harmonie: hoà mục theo cổ văn), là không những “có lộc” trên thị trường kinh tế  mà còn kiếm thêm được món tài sản tượng trưng (capital symbolique): cộng vào các Viện Khổng Học lừng danh đang mọc lên khắp thế giới, tại Trung Quốc thiên hạ còn chứng kiến sự lan tràn nhanh chóng của các Trung Tâm hoặc Fondations Khổng Học.

   Hệ quả là Luận Ngữ cũng thành đối tượng của nhiều dạng công cụ hóa. Về mặt tuyên truyền chính trị chỉ cần nêu một ví dụ : vào dịp lễ khai mạc Thế Vận Hội vào tháng 8-2008 ở Bắc Kinh do nhà đạo diễn điện ảnh được cả thế giới biết tiếng là Trương Nghệ Mưu chỉ huy, người ta đã thấy hiện lên bức họa với một số châm ngôn trích từ Luận Ngữ được một đám lính thuộc Quân đội Cách mạng Nhân dân cải trang thành nho sĩ xướng tụng theo kiểu hô khẩu hiệu. Nhưng chính yếu là trong lĩnh vực giáo dục, ở đây Luận Ngữ  đã lấy lại vai trò trung tâm nó từng nắm giữ xuyên các triều đại. Đây cũng là một cách lợi dụng các lối học tập, giáo huấn “ mang tính Trung Hoa đặc thù” rút ra từ các nguồn kho Khổng Nho để tái lập đạo lý trong xã hội, bắt đầu từ đám thiếu nhi  và thanh niên. Kể từ những năm 1990, thường là trong khung cảnh ngoài học đường hoặc song song với nhà trường, những phương pháp “truyền thống” được cổ xúy để rèn tập ngay từ tuổi ấu thơ cách lặp đi lặp lại máy móc và học thuộc lòng các kinh điển (bắt đầu từ bộ Luận Ngữ). Nỗi hâm mộ này cũng lây sang người lớn; nhiều lớp học, khóa đào tạo chuyên về “quốc học” được mở ra cho đối tượng này. Còn có các sáng kiến tư nhân do những kẻ động viên cho một thứ “Khổng giáo bình dân” đề xướng tại vùng đô thị hay thậm chí ở chốn hương thôn. Nhờ vào mạng Internet, các sáng kiến này đã tìm được một sức truyền đạt và phổ biến sâu rộng hiệu nghiệm chưa từng thấy.


 MÓN CHÁO GÀ CHO TÂM HỒN”
                      VỪA GIẢN DỊ VỪA THEO ĐÚNG ĐƯỜNG LỐI ĐẢNG


   Một biểu hiện khác cho thấy có vô số người đang quan tâm quay về tìm hiểu Luận Ngữ là cuốn sách của Vu Đan (Yu Dan), được dịch sang Pháp văn dưới cái tên hiền lành Le Bonheur selon Confucius ( Hạnh Phúc theo cách của Khổng Tử) (3). Nữ tác giả, một kẻ không có kiến thức chuyên sâu về Khổng tử và cũng thiếu luôn cái vốn văn hóa Trung Hoa truyền thống, là một cao thủ về truyền thông đã làm cho Luận Ngữ trở thành đầu sách bán chạy nhất trong vài năm nay. Hiện tượng media này lây lan đến một công chúng
rộng lớn nhờ các buổi truyền hình và các sách in như cuốn vừa kể trên (sách của Vu Đan đã bán trên mười triệu bản). Dưới bề ngoài giản dị ngắn gọn rất hấp dẫn, thật ra đây là một cách đọc bảo thủ và đồng thuận bị những người bài bác cho rằng tác giả đã im không đề cập đến phần phê phán quyền lực chính trị trong Luận Ngữ, và đã giảm thiểu hóa thông điệp nhân đạo của Khổng Nho thành “ món cháo gà cho tâm hồn” hoàn toàn thích hợp với chỉ thị nhà nước về mặt ổn định hóa xã hội. Nấp bóng Khổng tử được tạc hình tạc tượng cùng khắp Trung Quốc ngày nay là những quyền lợi “ của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” cùng với các mệnh lệnh ý thức hệ của “ một xã hội xây trên sự thuận hòa xã hội chủ nghĩa” (“société d’harmonie socialiste”).



CHÚ THÍCH
1. Niên triều Minh Trị (1868-1912) đánh dấu ý chí cương quyết canh tân của Nhật Bản.
2. Định hình từ thế kỷ thứ 7, khoa cử  là con đường bắt buộc để được triều đình tuyển dụng vào quan chức.  
3. Yu Dan, Le Bonheur selon Confucius. Petit manuel de sagesse universelle, Belfond, Paris, 2009.

     
    

Pháp quyền

Trong hầu hết lịch sử nhân loại, giai cấp thống trị và luật pháp đồng nghĩa với nhau, luật pháp đơn giản chỉ là ý chí của giai cấp thống trị. Bước đầu tiên để thoát khỏi chính thể chuyên chế đó là khái niệm pháp quyền, kể cả khái niệm kẻ thống trị cũng phải tuân thủ luật pháp và phải cai trị bằng các công cụ pháp luật. Các nền dân chủ đi xa hơn bằng việc xây dựng pháp quyền. Mặc dù bất cứ xã hội hay hệ thống chính phủ nào cũng đều có vấn đề, nhưng pháp quyền bảo vệ các quyền chính trị, xã hội và kinh tế cơ bản và nhắc nhở chúng ta rằng chính thể chuyên chế và vô luật pháp không phải là những lựa chọn duy nhất.

Trong hầu hết lịch sử nhân loại, giai cấp thống trị và luật pháp đồng nghĩa với nhau, luật pháp đơn giản chỉ là ý chí của giai cấp thống trị. Bước đầu tiên để thoát khỏi chính thể chuyên chế đó là khái niệm pháp quyền, kể cả khái niệm kẻ thống trị cũng phải tuân thủ luật pháp và phải cai trị bằng các công cụ pháp luật. Các nền dân chủ đi xa hơn bằng việc xây dựng pháp quyền. Mặc dù bất cứ xã hội hay hệ thống chính phủ nào cũng đều có vấn đề, nhưng pháp quyền bảo vệ các quyền chính trị, xã hội và kinh tế cơ bản và nhắc nhở chúng ta rằng chính thể chuyên chế và vô luật pháp không phải là những lựa chọn duy nhất.
  • Pháp quyền có nghĩa là không một cá nhân nào, dù là tổng thống hay công dân, được đứng trên luật pháp. Các chính phủ dân chủ thực thi quyền lực bằng luật pháp và bản thân họ cũng phải chịu những hạn chế của luật pháp.
  • Luật pháp phải thể hiện ý chí của nhân dân, chứ không phải ý muốn của các vị hoàng đế, những nhà độc tài, các tướng lĩnh, chức sắc tôn giáo hay các đảng phái chính trị tự phong.
  • Công dân ở các nền dân chủ sẵn sàng tuân thủ luật pháp của xã hội bởi vì họ đang tuân thủ chính những nguyên tắc và quy định của họ. Công lý đạt được một cách hoàn thiện nhất khi luật pháp được xây dựng bởi chính người dân, những người phải tuân thủ luật pháp.
  • Theo pháp quyền, một hệ thống toà án độc lập và vững mạnh phải có sức mạnh, quyền lực, các nguồn lực và uy tín để buộc các quan chức chính phủ, kể cả những nhà lãnh đạo cao nhất phải chịu trách nhiệm trước các quy định và luật pháp của quốc gia.
  • Vì thế các thẩm phán phải là những người được đào tạo tốt, có chuyên môn, độc lập và vô tư. Để thực hiện được vai trò quan trọng của họ trong hệ thống chính trị và pháp lý, các thẩm phán phải trung thành với các nguyên tắc dân chủ.
  • Luật pháp của một nền dân chủ có thể có nhiều nguồn: hiến pháp thành văn, các bộ luật và quy định; các giáo huấn tôn giáo và sắc tộc; các thông lệ và truyền thống văn hóa. Dẫu có nguồn gốc gì đi nữa, luật pháp phải có những quy định bảo vệ các quyền và sự tự do của công dân:
    • Theo yêu cầu được bảo vệ bình đẳng trước luật pháp, luật pháp không được áp dụng riêng cho bất cứ cá nhân hay nhóm người nào.
    • Công dân không bị bắt giữ tuỳ tiện, nhà cửa không bị khám xét mà không có lý do chính đáng hoặc không bị tịch thu tài sản cá nhân.
    • Công dân phạm tội phải được xét xử công khai và nhanh chóng, được đối diện và chất vấn những người cáo buộc. Nếu bị kết án, họ có thể không phải chịu những hình phạt dã man và hoặc bất thường.
    • Công dân không bị ép buộc phải nhận tội. Nguyên tắc này bảo vệ cho công dân khỏi bị ép buộc, lạm dụng hoặc đánh đập và giảm đáng kể tình trạng cảnh sát sử dụng những biện pháp đó.

Đụng chạm một thế giới chật chội

Ngày 14.5 vừa qua, nhà văn Mỹ Dan Brown đã ra mắt 4 triệu bản lượt đầu tiểu thuyết thứ 6 - Địa ngục, sau những Mật mã De Vinci, Pháo đài số, Điểm dối lừa, Thiên thần và ác quỷ, Biểu tượng thất truyền… làm nên danh giá cho tác giả. Theo “thông lệ” đối với cây bút chịu khó tìm tòi này: Địa ngục vừa trình làng đã gây ầm ĩ…
 
                                             Đụng chạm một thế giới chật chội
Sách khiến nổi da gà
Nhân vật đầu tiên xuất hiện mở đầu tiểu thuyết Địa ngục là một thanh nữ với bộ trang phục màu đen suốt từ đầu đến gót, lại bằng toàn một chất liệu: da thuộc - thế thì đúng là hiện thân của quỷ cái ở chốn địa ngục rồi! Mục tiêu của quỷ cái là xua đuổi nỗi sợ đối với nhân vật chính Robert Langdon, giáo sư sử học sành về nghệ thuật, đặc biệt là về những bí ký, biểu trưng bí hiểm. Nhưng hiện thời, giáo sư mắc bệnh mất trí nhớ, cứ ngỡ mình đang thuyết trình ở Đại học Havard nước Mỹ, mà trên thực tế thì lại ở Florence nước Ý, nơi thiếu vật bất ly thân là chiếc đồng hồ, trên mặt có hình chú chuột Mickey với chiếc áo cố hữu tã tượi (mà ta đã quen từ tiểu thuyết Mật mã De Vinci). Nhưng ngay cạnh giáo sư lại là nàng Sienne - nữ bác sỹ có IQ (thông số trí tuệ) còn cao hơn cả cha đẻ thuyết Tương đối Einstein và ngoại hình cỡ siêu sao Hollywood. 
Nhưng dư địa chí chỉ là thứ yếu. Chủ đề tiểu thuyết đề cập sự pha trộn ghê gớm trong nền tảng văn hóa ngầm rất u tịch - ta quen gọi là trầm tích - của trái đất, và cụ thể hơn, là sự nổi khùng, những cố gắng cưỡng lại tình trạng bùng phát dân số, chật chội cư dân. Trong sách, Bertrand Zobrist - nhà tỷ phú nắm trong tay lực lượng vũ trang tối tân đang chuẩn bị làm một cuộc đảo chính tầm cỡ “ngày phán xử cuối cùng của Chúa” - khi được người đứng đầu Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) hỏi: “Bây giờ ta đã có 7 tỷ người, ngăn chặn bây giờ liệu có muộn không?” thì nhà tài phiệt kiêm quân phiệt chỉ biết đáp lại cũng bằng câu hỏi: “Có muộn chăng?”.
Đoạn này đã biến độc giả trở thành đồng tác giả và nổi da gà. 
Tiếp nối tầng địa ngục
Từng được độc giả thả lỏng kể từ Mật mã Da Vinci (2003), Dan Brown cho phép mình ở trang nào cũng gài lẫy trong cái bẫy giăng đầy ám chỉ và ẩn dụ, đưa các nhân vật của Địa ngục di chuyển trên một bãi dày đặc mìn. Người giật giây kích nổ bãi mìn đó không phải ai khác - chính là Dante Alighieri - tác giả thiên tiểu thuyết bằng thơ Thần khúc, trong đó phần đầu có tiêu đề Địa ngục. Ngày ra mắt tiểu thuyết mới, Dan Brown cũng chọn đúng theo ý thức chỉ đạo: 14 tháng 5 năm 13, ghi tắt là 3-14015. Bạn có biết không, đó chính là giá trị tương đối của số pi. Bởi vì Dante Alighieri đã rải Địa ngục của mình ra làm nhiều vòng nhiều tầng, và số pi nhắc nhở về cách đo đạc những tầng ấy. Dan Brown có ý định soi rọi vào những viễn tưởng khoa học đầy thi vị của bậc tiền bối Dante Alighieri, như biến đổi gene đang trở thành nạn dịch toàn cầu có nguy cơ hủy hoại nhân loại. Người sau dẫn lời của người trước: “Những góc u tối nhất ở địa ngục để dành cho những kẻ giữ thái độ trung dung giữa cái thời khủng hoảng đạo đức”.  
Viết đã tìm tòi - phê cũng tìm tòi
Tác giả vĩ đại của cuốn tiểu thuyết thiên tài Mật mã De Vinci vừa thức giấc giữa long sàng, trong một dinh thự trị giá 10 triệu USD, và bỗng thèm nổi cơn thiên đình. Ngài cáu giận với số phận của một nhà văn giàu có nhất hành tinh ư? Nhưng cơn lôi đình của Dan cũng có cái lý của nó, vì trong đúng ngày hôm đó, cuốn tiểu thuyết mới của ngài - Địa ngục - sẽ trình làng… Đã quen với những luồng dư luận trái chiều về tác phẩm của mình, Dan thừa biết cuốn tiểu thuyết mới nhất này rồi sẽ bu đầy những con muỗi phê bình. Họ sẽ luận ra nhiều tội lỗi cho ngài: sai chính tả, trùng lặp câu chữ và ý tứ, ẩn dụ lạ lẫm, kiểu “mắt trắng bệch như mắt cá sấu trước lúc tấn công con mồi”, kể lể dông dài… Tóm lại - là những lỗi chết người trong văn chương. Những dư luận kiểu ấy, đương nhiên, khiến Dan bất an, ngài lập tức điện cho “đại diện toàn quyền” của mình và được phúc đáp:
- Ai lmà việc nấy, lời lẽ của bọn ghen tỵ ấy thì chấp làm gì. Đứng về phía ta, có hàng triệu độc giả đấy ạ.
- Thật thế à, - Dan thở phào nhẹ nhõm.
Thật mà. Các tiểu thuyết của Dan, ai mà chả đọc - từ Tổng thống Obama đến ngôi sao nhạc pop Britney Spears, từ nữ hoàng Elyzabeth đến ca sĩ Ledy Gaga”...  
Đấy là kiểu giới thiệu sách mới Địa ngục theo phong cách hài hước của nhà phê bình văn học Michael Deacon đăng trên tờ báo London Telegraph. Tuy không nói lời nào về tiểu thuyết Địa ngục, nhưng kỳ thực đã có sự đánh giá cặn kẽ về cuốn sách mới, về nghiệp văn của Dan Brown cũng như tâm trạng độc giả của tác giả những cuốn tiểu thuyết thiên về mật mã...
Đụng chạm một thủ đô
Và tiểu thuyết Địa ngục đã nhanh chóng gây hiệu ứng: Thị trưởng Manila Francis Tolentino đã đọc hết và lập tức công bố thư ngỏ cho Dan Brown, trong đó vạch rõ: tác giả đã phiến diện khi miêu tả thủ đô của Philippines, cụ thể, chỉ kể những mặt tiêu cực trong đời sống của người Philipines và mai mỉa cả những phẩm chất của thành phố. Trong thư, ngài thị trưởng nhấn mạnh rằng, người Philippines ưa kiểu quan hệ thiện chí và đồng cảm lẫn nhau, và thủ đô Manila không phải cổng địa ngục, mà là lối vào thiên đàng.
Chả là, một nữ nhân vật của Dan Brown ở Manila về, cô ta kể toàn những chuyện nhếch nhác bẩn thỉu, nghèo hèn, lắm tội phạm, trẻ chưa thành niên đã bị bố mẹ đẩy đi bán dâm - một cuộc sống bản năng, tuyệt vọng, con người không khác gì con thú hoang...
Đây không phải lần đầu tiên nhà chức trách Manila thấy bị xúc phạm trong nghệ thuật. Còn nhớ, năm 1998, Philippines chẳng đã ra tuyên bố chính thức tẩy chay nữ diễn viên Mỹ Claire Danes vì trả lời phỏng vấn rằng ở Manila thấy toàn mùi gián, và cấm chiếu toàn bộ phim có cô tham gia...
Giữa sáng tạo và bịa đặt có một khoảng cách xa đến như thế. Tiểu thuyết mới Địa ngục của nhà văn Mỹ lừng danh Dan Brown đang đón những thử thách của nhân tâm.

Roxana Robinson


“Burn Your Letters?”

Tại sao khi tác giả nói rõ ra là họ không muốn công bố tác phẩm của mìnnh, thì ta lại đem công bố chúng? Những bức thư của Willa Cather không được cho ai xem kể từ cái chết của bà năm 1947. Bà có thể đang lăn lộn trong mộ phần của mình khi mà giờ đây người ta đã xuất bản cả tập thư từ dày cộm của bà. Nhưng bà không phải người đầu tiên bị người ta lờ đi mong muốn của mình: nó xảy đến với nhiều nhà văn, sớm muộn gì cũng vậy.

Người thừa kế của Ernest Hemingway quyết định xuất bản tác phẩm cuối đời của ông sau khi ông qua đời, quyển “Vườn Địa đàng”, mà bản thân Hemingway đã (khôn ngoan) không bao giờ xuất bản. Thư của Georgia O’Keefe gửi chồng, Alfred Stieglitz, cũng không ai biết, thậm chí đối với giới học giả, trong suốt hai mươi lăm năm sau cái chết của bà. Giờ đây thì chúng có trên mạng, và ai cũng có thể tiếp cận được bằng một cái máy tính xách tay và mười lăm phút thời giờ.

Có lẽ cách duy nhất nhà văn có thể ngăn cản chuyện này là làm như Somerset Maugham đã làm: ông đốt những bức thư của mình trong lò sưởi, làm thành một giàn thiêu gầm gừ khi đó người thư kí của ông đứng bên với vẻ khiếp hãi. Thư kí của ông đã giấu đi một số bức thư, cố giữ gìn chúng, nhưng Maugham bắt gặp được. Ông nói những thứ đó cũng phải đốt luôn, và người thư kí phải bỏ chúng vào ngọn lửa cùng với số thư còn lại. Những bức thư đó của Maugham chưa bao giờ và sẽ không bao giờ được xuất bản.

Cuốn tiểu thuyết tao nhã của Martha Cooley, cuốn “The Archivist” (Người lưu trữ văn thư), đã thăm dò về những vấn đề này - về quyền sở hữu và quyền riêng tư, và nhu cầu của học thuật. Bà xem xét mức độ quyết tâm có được (bất kì giá nào) của giới học giả, và những luận cứu họ đưa ra (theo lối mở rộng nhiều tầng, mưu mẹo khéo léo, đầy thuyết phục) nhằm có thể truy cập được vào những tài liệu hạn chế người xem này. Trong tác phẩm này, một vị học giả kiên định cố hết sức để có được kho trữ những lá thư của T. S. Eliot. Người lưu trữ văn thư nhận ra tính kiên định nơi học giả kia, thế là anh quyết định dời tài liệu ấy ra khỏi tầm tấn công của vị học giả ấy. Anh ta làm theo cách của Maugham, và tự mình đốt những văn bản kia. Đây có thể là cách duy nhất để có thể bảo vệ tài liệu khỏi vòng vây không ngớt của giới học giả.

Mặt khác, tại sao các học giả không nên thấy những tài liệu như thế?

Nhìn chung có ba nguyên nhân để các nhà văn giới hạn tài liệu của mình: thứ nhất, đó là tài liệu riêng tư, và việc công bố nó ra sẽ phạm vào sự riêng tư của cá nhân hãy còn đang tại thế. Thứ đến, nó sẽ vén mở cho biết hành vi hoặc thông tin nào đó có thể sẽ làm nhà văn ấy hay bạn bè họ cảm thấy ngượng nghịu, và dễ dẫn đến việc quở trách này kia. Thứ ba, đặc biệt quan trọng đối với nhà văn, là văn bản đó thuộc loại không ổn hay chưa hoàn tất, chưa sẵn sàng để giới học giả có thể khảo sát.

Toàn bộ ba nguyên nhân này, thật cấp thiết và đầy thuyết phục trong thời điểm nhất định, nhưng rồi sẽ phai nhạt theo dòng thời gian. Georgia O’Keeffe qua đời ở độ tuổi chín mươi tám, ba mươi năm sau cái chết của chồng bà. Thư từ của bà được giới hạn thêm hai mươi lăm năm sau cái chết của chính bà để cho bất kì ai có mối liên hệ xa xôi với những bức thư đó đều đã qua đời từ lâu. Những mối quan hệ của họ - giữa họ với nhau, và với những người xung quanh - giờ đây được nhìn thấy qua tấm phông màn vô hại. Những hành động riêng tư của mọi người trong quá khứ dường như trở nên xa xăm và có thể chịu được; dường như chắc chắn là người ta có thể hiểu được các hành vi đó.

Chúng ta tha thứ cho người đã khuất vì những chuyện lập dị của họ; ai cũng có chuyện đó cả. Liệu chúng ta có nên bị ngăn khỏi những tờ nhật kí riêng tư của Edmund Wilson hay không nếu chỉ vì chúng cho ta biết ông cảm thấy khoái cảm ở mấy chiếc giày? Chúng ta không nên, cũng như sẽ không chỉ trích ông ấy vì điều này: những mô tả gần gũi và đầy ám ảnh của ông về những món đồ đi ở chân của mấy bà bạn là những bản văn tuyệt diệu. Wilson ắt sẽ cảm thấy bối rối khi gặp một người phụ nữ xa lạ nào đó đọc được mấy dòng chữ này, cô ta không thể cưỡng lại việc khẽ mỉm cười, hoặc một cái liếc nhìn khêu gợi xuống đôi guốc của chính mình – nhưng điều đó không thể xảy ra, bởi vì những tờ nhật kí không được công bố mãi đến sau khi ông qua đời. Khi đó chúng sẽ được người ta đào bới lên nhằm tìm kiếm lượng tài liệu dồi dào mà những văn bản đó cung cấp cho ta biết về những thức nhận cốt yếu của ông ta. Những chiếc giày là phần thêm vào thôi, nhưng chúng cũng mở rộng tầm hiểu biết của ta về cách thức hoạt động của những bộ óc vĩ đại. Chúng hoạt động theo những cách lạ thường – liệu đó không phải là vấn đề sao?

Những tài liệu bị giới hạn là nơi lưu trữ kho báu rực rỡ: các học giả sẽ tìm ra nó. Họ sẽ tìm được cách đọc văn bản đó; rồi họ sẽ tìm cách xuất bản nó. Và hẳn nhiên là trong nền văn hoá phát cuồng lên vì thông tin của chúng ta – trong đó những tài liệu chính quyền bí mật và những quyển sách bản quyền được công bố cho cả thế giới biết đơn giản vì những người có thể sử dụng công nghệ nghĩ là họ nên đọc được – chúng ta có thể hiểu cái khuynh hướng này. Con người có một ý chí không thể cưỡng lại cho việc khám phá và vén mở những bí mật.

Điều lạ lùng là những tài liệu đó thật sự không cần sự bảo vệ, bởi vì một khi một nhà văn nào đó đủ danh tiếng để làm dấy lên sự chú ý ào ạt từ giới học giả, thì cái nhìn tự chọn lọc của giới học giả sẽ trở thành cái nhìn tương đối vô hại. Nhìn chung, giới học giả sẽ không gắng sức vì những kẻ họ khinh thường, mà sẽ gắng sức vì những người họ tôn trọng và nể phục. Những tài liệu bí mật đó sẽ được lọt vào tầm mắt của những người đã biết và hiểu rõ nhà văn ấy. Và người ta đánh giá nhà văn dựa trên tác phẩm xuất sắc của họ: tác phẩm tồi tệ không làm danh tiếng của nhà văn bị lu mờ được. Những tài liệu thời kì đầu, cuối đời, chất lượng không đạt, hay chưa xuất bản sẽ soi sáng và vén mở cho người ta thấy, chứ nó không làm nhà văn mất đi giá trị được. Những học giả yêu thích mấy tác phẩm tuyệt vời của họ sẽ là những người muốn dành thời gian cho những tài liệu bí mật kia.

Sau rốt, ai có quyền đối với tác phẩm của nhà văn? Bằng cách công bố ra bất kì văn bản nào với bất kì cách nào, nhà văn đã đặt mình ngay trong tầm nhìn của công chúng, và tự khơi mở chính mình ra trước ánh nhìn háo hức của con quái vật công chúng. Nếu nhà văn muốn chắc chắn không ai đọc được những bức thư của mình, thì họ sẽ luôn có lò sưởi. Nếu họ muốn lưu giữ chúng ở một địa điểm hàn lâm nào đó, nhưng lại giới hạn chúng lại, thì có khả năng là giới học giả sẽ moi được chúng ra ngoài. Nhưng đây có thể sẽ là là mối quan quan tâm nhân từ của giới học giả, và danh tiếng của nhà văn sẽ được đánh bóng lên nhờ việc tiết lộ thế này.

Sau rốt, cái chết chính là yếu tố quyết định: cái chết nghĩa là từ bỏ quyền năng lần cuối cùng. Bất kể ta ước mong gì, khi chết là ta đã nhượng vị quyền kiểm soát đối với bản thân và tác phẩm của mình. Văn bản có thể tồn tại và nảy nở, nhưng ta không thể kiểm soát chúng được nữa. Như Virginia Woolf từng nói, về tiểu sử, “Đây là quá khứ và toàn bộ cư dân của nó, được niêm phong một cách huyền diệu như trong một cái bể chứa đầy ma lực; tất cả những gì ta phải làm là nhìn và lắng nghe… và những nhân vật bé nhỏ - bởi họ có kích cỡ tương đối nhỏ hơn người thật - sớm bắt đầu di chuyển và phát biểu, và khi họ di chuyển ta sẽ sắp xếp họ theo đủ loại hình mẫu mà họ không biết được, bởi khi còn sống thì họ nghĩ rằng họ có thể đi tới những nơi mình thích; và khi họ cất tiếng nói thì ta sẽ nhìn vào những câu nói ấy mà đọc ra đủ loại ý nghĩa mà họ không bao giờ hình dung ra, bởi khi còn sống họ tin rằng họ đã nói thẳng thừng ra bất kì điều gì lọt vào trong đầu mình. Nhưng một khi bạn ở trong một tiểu sử thì mọi thứ sẽ khác.” Sự thật là một khi bạn chết đi rồi thì mọi thứ sẽ khác; người ta sẽ quyết định cách bạn được nhìn thấy.

Chính tác phẩm là thứ thu hút sự xem xét của người khác. Những nhà văn như chúng ta bộc lộ bản thân minh thông qua tác phẩm, và ở chừng mực nào đó thật phi lí khi nghĩ rằng ta có thể duy trì sự riêng tư của mình: ta đã từ bỏ quyền riêng tư khi gửi đi bản thảo đầu tiên đó, cái bản thảo mà trong đó ta bộc lộ cái tôi mãnh liệt và thân tình nhất. Bất kể ta gọi đó là thể loại gì, bất kể ta viết nó ra dưới cái tên gì, đó vẫn là chúng ta. Nếu nó thổi bùng lên ngọn lửa hào hứng nơi công chúng – thì đó chẳng phải là điều ta hi vọng hay sao? – khi đó ngọn lửa ấy sẽ thiêu rụi ta. Nếu ta đốt mấy bức thư, thì ta cũng không dập tắt được ngọn lửa đó. Nó vẫn sẽ tiếp tục, mà còn được châm thêm dầu vào từ sự suy đoán của công chúng. Có lẽ câu hỏi thực thụ không phải là “Liệu chúng ta có nên giới hạn thư từ của mình sau khi qua đời hay không?” mà là “Liệu chúng ta có nên ngồi vào bàn và bắt đầu tạo ra những câu chữ hay không?” Đó là sự mạo hiểm lớn nhất.




Đoàn Khương Duy dịch từ: Robinson, Roxana. “Burn Your Letters?” New Yorker, 5/2013: newyorker.com/online/blogs/books/2013/05/what-writers-leave-behind.html




Dương Kinh Thành

Chàng Dũng Sĩ Và Con Ngựa Vàng”

image
Ý thức giác ngộ bao giờ cũng phải đánh đổi bằng ý chí trước rất nhiều thử thách, đôi khi phải bằng cả sinh mạng một đời người.
                               Xin được mạn phép ví von  Nhạc Sĩ Phạm Duy  bằng chính tựa đề Đạo ca 4 (Ảo Hóa) trong tập 10 bài Dạo Ca của ông phổ từ thơ của  Phạm Thiên Thư như trên. Thật ra nội dung“Chàng Dũng Sĩ và Con Ngựa Vàng” nói về một sự đi tìm, trong ước vọng, tham vọng, cuồng vọng và mê đắm.vv…nhưng tất cả đều có tự trong tâm thức , bản  thể của mổi chúng ta. Ở đây, người viết muốn nói đến bước ngoặc trong đời sống âm nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy đã rẽ sang hướng khác kể tử khi gặp được  nhà thơ Phạm Thiên Thư (khi ấy hảy còn là tu sĩ với pháp danh Tuệ Không). Một sự rẻ hướng mang ít nhiều  yếu tố của  tri thức Phật học, để từ đó về sau  những tác phẫm của ông  không còn  là những đắng cay, chán chường và bế tắt của những Tâm Ca, Tâm Phẩn Ca, Vỉa Hè Ca.vv…Đó là giai đoạn nửa đầu thập niên 70  của thế kỷ trước, giữa lúc  bất ổn  của chiến tranh, xáo động văn hóa dân tộc và băng hoại đạo đức. Vì thế, ngưới viết ví nhạc sĩ Phạm Duy chính là Chàng Dũng Sĩ  thời ấy và  Con Ngựa vàng là sự nghiệp âm nhạc của ông.

                          Ông đã ra đi vào lúc 14,30 trưa nay ngày 27/1/2013 nhằm ngày 16 tháng chạp năm Nhân Thìn. Một cây đại thụ trong làng âm nhạc VN đã rũ bóng tà dương. Một mất mát lớn lao khó có gì bù đắp nổi.

                           Nhà báo Giao Hưởng (báo Thanh Niên) có kể lại trong một lần  gặp gở tại nhà riêng, ông tâm sư về những tác phẫm ban đầu đều mang dấu ấn bưồn đau của kiếp người (Một Kiếp Hoa). Nhà báo  kể :

                            “Khi ông nói, ngoài trời vẫn mưa lớn lắm. ông chợt nhìn vào pho tượng của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đặt trước mặt ông, ngay chổ tiếp khác. Chúng tôi không hiểu do tình cờ hay do nhắc đến”kiếp người” mà ông nhìn vào pho tượng Bồ Tát Quan âm cứu khổ cứu nạn như thế…”

                          Ý thức giác ngộ bao giờ cũng  phải đánh đổi  bằng ý chí trước rất nhiều  thử thách, đôi khi  phải  bằng cả sinh mạng một đời  người. Nhạc sĩ Phạm Duy vì có  nguồn năng lượng phước báu tích tụ tự bao đời nên khi chỉ cần gặp nhà thơ Phạm Thiên Thư  lần đầu  klhi cà hai đều đến thăm ông Nguyễn Đức Quỳnh trong bệnh viện, đã nhanh chóng  kết thân nhau ngay. Nhạc sĩ Phạm Duy cảm thấy thanh thản , nhẹ nhàng hơn mỗi khi đọc  những bài thơ của Phạm Thiên Thư gởi đến, và Phật học đã  tuần tự đi vào tâm thức ông bằng chính những bài thơ  như thế. Từ Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng  đến Em Lễ Chùa Này  đã  dẫn từng bước  chân  âm nhạc tài hoa của ông nhập vào thế giới của Đạo Ca Giữa Thành Vách Sương Mù, để từ đây người ta đã thấy một Phạm Duy cao hơn hẵn giữa đời thường. Phải chăng chính vì  những ý nghĩa mang tính quyết định quan trọng cho bước rẻ ngoặc  đó mà ông phải đích thân đọc  cho từng lời tựa  mỗi bài Đạo Ca của mình? Những người ái mộ ông  và cả bạn bè  đều rất ngạc nhiên về điều này. Nhờ vậy, giờ đây, kho ông đã Nghìn Trùng Xa Cách thanh âm từ giọng  đọc có  mang  dấu ấn uy lực mạnh mẻ ấy  vẫn còn đang  dõng dạc với thời gian.

                       Không phước báu lớn sao được khi trong vô số nhà thơ thời bấy giờ và bằng  danh tiếng, tài năng của ông có thể dễ dàng  kết thân  cùng nhau   cho ra đời nhiều tác phẫm  hay, nhưng phài đợi đến một  vị tu sĩ  bình thuờng  ở chùa Vạn Thọ  như Tuệ Không (Phạm Thiên Thư) mới lay chuyễn được  tâm hồn  một nhạc sĩ tầm cở . Có thể nói, cảm nhận  ban đầu của  ông rất chính xác khi nhìn một vị tu sĩ bình thường ấy  có ẩn chứa  bên trong một kho tàng   văn chương  nhân sinh  mang đậm  triết lý  duy thức Phật giáo. Một vị tu sĩ mà nếu sức htiếu  tinh thần  tu học thì khó có được một thành quả đáng nể thời bấy giờ và khi phát hiện thêm điều này chính nhạc sĩ Phạm Duy cũng   giật mình thánh phục.

                        Phạm Thiên Thư là người Việt Nam duy nhất đã thi hóa 7 bộ kinh Phật baằng ngôn gnữ thầun Việt, sáng tác Từ Điển Cười (Tiếu liệu pháp) bằng thơ, làm Từ Điển châm ngôn, viết 3,32o câu lục bát kể chuyện lịch sử trong Hát Ru Việt Sử Thi, và thi sĩ duy nhất “giỡn mặt” đại thi hào Nguyễn Du để viết lại truyện kiều (Đọn Trường Vô Thanh) tất cả đều Việt hóa.vv…(nguồn Thiên Ca-Blog Người Nổi Tiếng).

                        Gặp Nhạcsĩ Phạm Duy, nhà thơ Phạm Thiên Thư  ví “Tôi gặp nhạc sĩ Phạm Duy như ngọn núi gặp một đám mây”. Mây và núi  hòa quyện  nhau  bằng chất liệu tư duy Phật học nhưng bay bổng  thi vị giữa đời thường, ai cũng có thể  nắm bắt được.

                          Cũng chính vì  gặp nhau  do nhân duyên tác hợp, dù sau náy  khi chính thức trở về VN sinh sống , nhạc sĩ Phạm Duy và nhà thơ Phạm Thiên Thư khi nào,  mổi sáng thứ bảy hàng tuần vẫn gặp nhau uống cà phê ở đường Ngô Đức Kế, nhưng  sự  tác hợp nghệ thuật   bằng thơ ca  như thửo Đạo Ca chỉ dừng lại  nới đó .

                       Bậy giờ  đám mây đã bay đi, ngọn núi còn ở lại, đứng cô đơn giữa trời  mà hát khúc vô thường không mong đợi.

                       Xin  gởi nén  tâm hương kính viếng  hương linh nhạc sĩ Phạm Duy. Nhạc sĩ  ra đi nhưng tác phẫm  Đạo Ca còn  ở  lại với đời. nhiều sau lấy đó  làm buớc chuẩn cho sáng tác  thơ nhạc phụng sự  chánh pháp  như  khi Phạm Thiên Thư còn là tu sĩ đã dốc lòng  đem hết sở  học Phật pháp của mình  trả nợi ơn Tam Bào, ơn chúng sanh.

                          Nếu  nhạc sĩ Phạm Duy là Chàng Dũng Sĩ thì nhà thơ Phạm Thiên Thư chính là Một Gã Từ Quan, Lên Non Tìm Động Hoa Vàng…Ngủ Say. Rất đẹp hình ảnh  sau cùng ấy của một kiếp nhân sinh, biết chấp nhận  vô thường, lẽ sinh diệt thường hằng và những dòng thơ ấy chỉ có  những  nốt nhạc tài tình của Phạ duy mới khắc  họa thêm sâu nặng  tính triết lý ngàn đời ấy của  nhà Phật:

                         Đưa nhau ra tời bên cầu nước xuôi
                        Sông này đây chảy một dòng thôi
                        Mấy đầu sông thẳm, khóc người cuối sông./.