Saturday, August 2, 2014

Barbara ROSE

                                         Tính phân cực của Hội Họa Hoa Kỳ
 
                                                                                                                     Barbara Rose

                                                   
                LA  Peinture Américaine - Le XXème siècle
                       Ed. d’Art Albert Skira, S.A. Genève.





                Đôi khi sự hỗn tạp của chủ đề, hình ảnh và kỹ thuật của nền hội họa Hoa Kỳ khiến người ta nghĩ rằng, thứ văn hóa thị giác không đồng nhất của xứ sở này chưa từng bị gián đoạn, nhưng nó cũng không dành đặc ân cho một loại mỹ thuật nhất định nào. Cho dù trong lịch sử tương đối ngắn ngủi của nó, đã có bao đợt sóng di dân không ngừng tràn tới. Tuy nhiên, nếu xem xét tinh tế, ta sẽ thấy có những dòng chủ đề luân lưu qua lịch sử hội họa Mỹ, nối liền các thế hệ nghệ sĩ kế tiếp với những mối lo âu và sở nguyện giống nhau trong cơ bản.

         Theo quan niệm nghệ thuật Âu Châu, đặc biệt của Pháp, thì hội họa là một vật trang trí chủ đích dùng để tạo lạc thú. Điều này từ lâu nay vẫn trái ngược với quan niệm của Hoa Kỳ. Người Mỹ luôn luôn cho rằng hội họa phải được hòa tan vào đời sống của xã hội bao quanh, hay nếu không, thì là một thứ kinh nghiệm tâm linh, tôn giáo hay thần bí vượt lên trên những điều hoàn toàn do cảm giác. Có hai điểm khác biệt chính yếu giữa Hoa Kỳ và Âu Châu giúp chúng ta nhận định rõ ràng phương hướng đặc biệt của hội họa Mỹ. Điểm thứ nhất là sự vắng mặt của nghệ thuật cung đình, điểm thứ hai, do sự cấm đoán các hình ảnh thần linh trong đạo tin lành vốn chiếm đa số ở Mỹ, nên hoàn toàn không có loại hội họa tôn giáo theo truyền thống đền đài. 



         Ta cũng có thể nghĩ rằng, trong một quốc gia mà từ khởi đầu được lập nên làm chốn nương náu cho những tín đồ tin lành thanh giáo và các môn phái bị ngược đãi, thì lòng mộ đạo mạnh mẽ đã khiến họ tự nhiên thiên về loại nghệ thuật phong tục thế thái và những hình thức khác nhau của chủ nghĩa tả chân. Giới bình dân Mỹ thường yêu thích các tranh họa liên quan đến đời thường và khó thực hiện, như loại ảo họa dùng để gợi lại thế giới thực tại. Nó thành công nhờ vào thứ ảo thuật biết đánh lừa con mắt, ngay cả biến đổi ảo ảnh thành hiện thực. Những người theo khuynh hướng này khi vẽ tranh rất sát với thực tế đã tạo ra sự lẫn lộn giữa những dữ kiện thật sự và hoang tưởng. Một số họa sĩ vẽ tĩnh vật kiểu nhìn xa như thật như John Peto, William Harnett và John Haberle luôn cố tình vẽ nguyên xi từng chi tiết của sự vật. Họ đã phần nào biểu lộ một khía cạnh tâm lý Mỹ là yêu chuộng sự diễn dịch khách quan và sát thực tế. Điều này gạt qua bên các phép ẩn dụ và tượng trưng. Đây là xu hướng theo chủ nghĩa thực dụng, và là đóng góp duy nhất mang tính cách Hoa Kỳ vào dòng triết học tổng quát của thế giới.

         Trong quan niệm ấy, điểm khởi đầu của sự quan sát chính là những dữ kiện trực tiếp chứ không phải thuyết trừu tượng- điều kiểm chứng được bao giờ cũng dành được ưu tiên hơn các việc mơ hồ. Haberle đã đi theo khuynh hướng đó khi vẽ một cái đồng hồ đúng với hình dạng của nó trong cái khung ba chiều, tạo ra một chiều sâu thực thụ và đồng hóa hình ảnh trọn vẹn với tất cả không gian hội họa; không còn hậu cảnh để ta cảm nhận đó là ảo giác. Sau này, cũng theo kiểu ấy, Georgia O’Keeffe khi vẽ bức Lake George Window đã đồng hóa hình ảnh màu sắc đồng nhất của khung cửa sổ với tất cả mặt tranh. Ông dùng cách thức bố cục đã học từ Arthur Wesley Dow ở đầu thế kỷ, phỏng theo cấu trúc của hội họa Nhật Bản, để chia mặt tranh thành những khoang giản dị thay vì kết hợp những thành phần nhỏ hợp mắt với nhau. Ảnh hưởng ngày một lớn của triết học và nghệ thuật Nhật Bản, một nước hướng về miền Tây Hoa Kỳ trong khi Âu Châu gần mé Đông hơn, đã giải thích cho chúng ta một số khác biệt giữa hội họa Mỹ và  Âu Châu  ở thế kỷ XX.

Barnett NEWMAN - Painting at MoMA.


         Vào những năm năm mươi, sáu mươi, sự thịnh hành của không gian màu sắc nơi các nghệ sĩ như Barnett Newman, Mark Rothko và nhiều môn đồ trẻ của họ vừa là ảnh hưởng của những mặt màu sắc đồng nhất kiểu O’Keeffe và Dow, đồng thời là sự hồi tưởng về cách dùng màu của Matisse. Quyết định loại bỏ hình thể và tỷ lệ trong các bức tranh của Newman để nghiêng về cách chia mặt toile ra thành nhiều băng màu rực rỡ chính là nguồn gốc của một thứ cấu trúc không kém phần mới mẻ so với kỹ thuật all-over của Jackson Pollock. Tính cách trừu tượng trong không gian màu sắc của Newman hay lối vẽ những cuộn màu xoắn bện vào nhau bằng phương thức ném sơn vào mặt vải của Pollock là những thể thức xa lạ với nghệ thuật của Âu Châu cũ kỹ. Ngoài ra, chúng biểu hiện cách dùng khung bố như một không gian để làm đầy, chứ không phải một thứ nền để vẽ lên đó vật thể chính, phương pháp này đúng ra đã nảy sinh từ quan niệm của O’Keeffe, hơn là từ phái lập thể hoặc trừu tượng Âu Châu.


         Trong tấm tranh Cờ Hoa Kỳ vẽ năm 1954, Jasper Johns đã sắp xếp có phương pháp những băng màu mà Newman sử dụng để chia mặt toile thành nhiều khoang màu sắc. Với những tác phẩm mới, Johns đã tiếp tục cách chơi tài tình này giữa ảo giác và sự thật, giữa nghệ thuật và đời sống. Peto cũng thể hiện tính cách ấy trên bức Palette, bock et pipes (1) (Bản pha màu, ly bia và ông điếu). Những vật dụng thường dùng của người họa sĩ được vẽ lại trên một tấm gỗ thật, trên đó các bóng phản chiếu làm tăng thêm hiệu lực của ảo giác. Công thức nổi tiếng của Frank Stella: Điều bạn thấy là điều bạn thấy (what you see is what you see ) được diễn dịch theo nghĩa : hội họa là một điều hoàn toàn vật chất, hình thể, và không mang một tính cách bí hiểm nào cả. Chính nhờ ở thuyết thực dụng Mỹ và những kinh nghiệm của nó mà nay cái định nghĩa đúng nguyên văn có thể áp dụng vào hội họa trừu tượng, trường phái có từ Kandinsky, Kupska, Mondrian, mà đối với họ, đó là một ý thức vũ trụ mang tính cách siêu hình.



         Ngoài ra, còn có một thứ triết học đạo giáo ưa chuộng những điều cao siêu cũng là một nguồn gốc khác của họa tượng Hoa Kỳ, trái ngược với thuyết nguyên văn trên. Đấy là một sản phẩm của sự sùng bái tôn thờ thiên nhiên là thần thánh nơi các nhà văn như Thoreau và Emerson. Họ đồng hóa Tạo Vật thiên nhiên với Thượng Đế. Nhiều khái niệm bắt nguồn từ các tôn giáo phương đông như Phật giáo thiền tông và Thông thần Học, một phong trào triết học duy linh do Annie Besant sáng lập ở Mỹ đã có ảnh hưởng sâu đậm vào Kandinsky cùng những người vẽ trừu tượng đầu tiên. Sức mạnh của tư tưởng thần bí này đã biểu lộ trong các sáng tác hồi đầu thế kỷ của Dove và O’Keeffe, và sau đó chúng ta lại bắt gặp trong nghệ thuật của Mark Tobey, người theo thuyết duy tâm bahai, và trong những tác phẩm của Pollock, hay các bức tranh ảo tưởng của Barnett Newman.

O'KEEFFE - Phong Cảnh.


         Mới đây, những họa sĩ thế hệ trẻ đã từ bỏ hội họa trừu tượng để đi theo nghệ thuật tượng hình. Ta có thể nói đến trường hợp Bill Jersen, bức tranh Shangri-La (2) của ông tượng trưng hình ảnh một phôi thai đã gợi nhớ tấm danh họa Ligne grise avec du noir, du bleu et du jaune (3) (Đường xám với màu đen, xanh và vàng) của Georgia O’Keeffe vẽ cách đây hơn sáu mươi năm. Ý muốn thôi thúc sáng tác tranh vô vật thể, vốn đòi hỏi sự vô hạn và những ý niệm tâm linh, đã lụi dần sau những năm sáu mươi. Thời buổi ấy yêu chuộng cách dùng vật liệu và kỹ thuật mới, chẳng hạn như sự sản xuất hàng loạt và chế tạo công nghiệp. Nhưng vào khoảng năm tám mươi, trong khi một nhóm họa sĩ, Brice Marden, Jake Berthot và Porfirio di Donna, vẫn vẽ trừu tượng thì có những người khác khai thác loại hình tượng hoàn toàn hướng về tôn giáo. Người đi sâu vào khuynh hướng này là Sam Francis.  


         Trong số những mối ưu tư bất biến của hội họa Hoa Kỳ chúng ta nên nói đến sự chú trọng về cảnh tượng thế thái và phong cảnh thành thị. Nhưng song song với nó, hình thức trừu tượng của sự cơ giới hóa vẫn tiếp tục cuốn hút các nghệ sĩ Mỹ. Ảnh hưởng của các họa sĩ Âu Châu như Fernand Léger và Piet Mondrian khi họ bị lưu đày sang Nữu Ước vào đệ nhị thế chiến, cũng như sự hiểu biết tường tận về Matisse và Picasso lúc hai người này đến tham dự triển lãm ở Galerie 291 của nhà nhiếp ảnh Alfred Stieglitz ngay trước thế chiến lần thứ nhất đã tồn tại mãi mãi. Nhờ viện Bảo tàng Nghệ thuật Cận đại ở Nữu Ước, được khánh thành năm 1929, mà các họa sĩ Mỹ chưa từng đến Âu Châu được có trong tầm tay những tác phẩm của các họa sư hiện đại tây phương, điển hình là trường hợp Arthur B. Carles sinh trưởng ở Philadelphia, và Bryon Browne, thành viên của Hội Nghệ sĩ Trừu tượng Hoa Kỳ do một nhóm nghệ sĩ tân tiến  thành lập năm 1936 để đề cao phái lập thể và kiến tạo. Họ đã kết hợp, lần đầu tiên, cách vẽ lập thể của Picasso và kiểu fauviste của Matisse. Cho tới thế chiến thứ hai, lúc nhiều họa sĩ Âu Châu đến Nữu Ước tị nạn, nhóm trừu tượng chỉ là thiểu số, bị quần chúng bình dân vốn ưa thích loại tranh nhân gian trong truyền thống tượng hình xem thường. Một họa sĩ cận đại George L.K. Morris từng theo học Léger ở Paris và chịu ảnh hưởng của Hélion, đã thử vẽ những chủ đề Mỹ theo tính cách lập thể. Trong bức Composition Indienne (4) (Cấu tạo da đỏ), Morris đã dùng hình thể và màu sắc của nghệ thuật dân da đỏ châu Mỹ để diễn tả một bộ ngực đàn ông. Trước đó Hartley, O’Keeffe, Dove cùng nhiều người khác đã lấy cảm hứng từ nghệ thuật của Thế Giới Mới. Gần hơn nữa là Peter Young và Alan Shields chịu ảnh hưởng các hình dạng thủ công và các thứ nghi thức da đỏ, những tấm thảm navajo của họ đã gây ra động chạm đáng kể với ngành trừu tượng.


         Sau này, mối quan tâm về lịch sử trở nên mạnh mẽ hơn, đặc biệt là lịch sử Hoa Kỳ, đã khuyến khích các họa sĩ không những nên chú tâm đến đề tài lịch sử mà cần có cả cái nhìn phê phán về những thời điểm kém vinh quang của nó. Sự chà đạp dân tộc thiểu số và cuộc tàn sát những thổ dân để cho Âu Châu chiếm làm thuộc địa đã được họ đề cập tới. Họ còn dùng cả phong tục học Hoa Kỳ làm nguồn cảm hứng. Từ đầu này đến đầu kia thế kỷ, những nghệ sĩ và các nhà phê bình đã ý thức được tính nhị nguyên phát sinh bởi ảnh hưởng của một bên là sự ngụy biện Âu Châu, và bên kia là tính chất ngây thơ của Mỹ, mặc dù theo Irving Sandler, trong một nghiên cứu về biểu hiện và trừu tượng, người Âu đã công nhận sự chiến thắng của hội họa Hoa Kỳ. Tính nhị nguyên này được cảm nhận sâu xa trong các năm ba mươi, vào thời kỳ thống trị của chủ nghĩa địa phương vốn tán tụng nếp sống thực tế của một nước Mỹ quê mùa. Trong khi đó, một số các nghệ sĩ tiền phong thừa nhận phong cách nghệ thuật lớn của tây phương, họ chê bai các đề tài thế thái phong tục và giai thoại, chỉ có mục đích diễn dịch.



         Thời kỳ khủng hoảng nặng trong những năm ba mươi đã được đánh dấu bởi thứ thị hiếu bình dân. Mỗi lần từ châu Âu trở về, nhiều người Mỹ quay lưng từ bỏ hội họa trừu tượng. Dù nguồn gốc phát xuất từ trừu tượng, Thomas Hart, Benton, Masden Hartley, Andrew Dasburg là những người trong số nhiều họa sĩ đã vẽ tranh hình thể trong những năm tháng ấy. Cũng lúc đó, phong trào yêu thích loại hội họa nhạy cảm biểu lộ tính cách cá biệt của từng họa sĩ đã nổi lên, nó được xem như sự giao hòa, ứng đáp mật thiết giữa mặt toile với bút vẽ. Nhưng số người toan tính thổi vào nền hội họa Mỹ sự tinh tế, ý thức về sắc thái cùng những chi tiết kiểu tây phương này chỉ là nhóm nhỏ, không có mấy người hưởng ứng. Tỷ dụ trường hợp Arthur B. Carles, chết vì rượu năm 1952, hầu như chẳng ai biết đến, trừ vài đồng nghiệp của ông, John Marin và Hans Hofmann. Marin đã viết như sau về Carles: Ông đúng là một người đắm say hội họa và có một ý thức tuyệt vời về màu sắc.


         Việc đầu tiên mà Trường Nghệ thuật Nữu Ước đã làm là rời xa những thứ vòng vi quanh co, những mặt phẳng nhẵn nhụi và không có cá tính của hội họa Mỹ trẻ dại tân thời. Nhiều người đứng đầu nhóm này, Hans Hofmann, Arshile Gorky và Willem de Kooning trước kia vốn là những tên tuổi của phái biểu hiện trừu tượng nay nghiêng về phía Âu Châu. Họ có những hiểu biết trực tiếp về các bực thầy cổ cựu tây phương và là những người vẽ giỏi. Pollock cũng đã học vẽ lại tác phẩm của các họa sư trong suốt những năm học nghề, dù ông không sang tới châu Âu mà chỉ học từ các bản sao.



         Cho đến gần đây, hội họa Mỹ được nuôi dưỡng cốt yếu bởi những kiến thức thu lượm gián tiếp qua cách sao chép, điều này đã ảnh hưởng rõ rệt vào phong thái và kỹ thuật của nó. Không có gì quá đáng khi xác định rằng, hội họa Hoa Kỳ đã xuất hiện dưới dạng nhiếp ảnh và sao chụp máy móc. Ngay cả loại tranh phong cảnh hoành tráng của trường Hudson River School ở thế kỷ XIX và những loại tương tự ở miền Tây Hoa Kỳ cũng thường lấy cảm hứng từ thuật in màu trên thạch bản, nếu không, thì từ các ảnh chụp thực thụ. Các nguồn gốc như vậy có thể giải thích cái khuynh hướng ảnh chụp trong chủ nghĩa hiện thực của họ, cũng như về sự vắng bóng của những đường nét rõ ràng trên mặt tranh. Điều này phân biệt rành mạch hội họa phong cảnh Hoa Kỳ và Âu Châu. Quen lấy cảm hứng từ nhiếp ảnh nên các họa sĩ Mỹ thường bắt chước những mặt sơn đồng màu, nhẵn nhụi và các kiểu cách cắt xén của nó. Kể từ phát minh ra nhiếp ảnh vào năm 1839, và có thể đối với tính cách máy móc và tinh thần Mỹ, thì nghệ thuật này đã biết cách thu nhận những dữ kiện cùng hình ảnh của thế giới thực tế một cách bảo đảm, nên nó giữ vai trò quyết định trong nghệ thuật hội họa của họ. Một số họa sĩ tên tuổi như Charles Sheeler, Ralston Crawford và Robert Rauschenberg vốn xuất thân là nhà nhiếp ảnh đã dùng nghệ thuật ấy như một nền tảng làm việc. Nếu đôi khi Sheeler đã sao rập lại nguyên xi các tấm ảnh ông chụp vào tranh vẽ, thì Crawford chỉ dùng ảnh chụp như điểm tựa để khởi đầu. Lắm lúc ông còn sửa chữa lại vài chỗ trên tấm ảnh sau khi đã vẽ xong bức tranh.


         Chắc chắn rằng những hình ảnh gạn lọc từ cách sao chép đã góp phần nhấn mạnh tính sát sự thật trong hội họa Mỹ. Tuy nhiên nhiều nghệ sĩ cận đại, từ Marsden Hartley tới Ad Reinhardt, đã cưỡng chống lại ảnh hưởng của nhiếp ảnh và sự sao rập máy móc này. Đối với họ, hội họa mãi tồn tại như một khám phá tâm linh, một kinh nghiệm tiền nghiệm và không phải là điều có thể kiểm chứng. Ở thời buổi cơ giới và khuếch trương kỹ nghệ thì những tư tưởng đối nghịch đó tạo ra một sự nghi ngờ nặng về ý thức tiến bộ nơi các nghệ sĩ Hoa Kỳ. Những lát gỗ sơn nhỏ trong bức họa rất cổ điển Eglise à Head Tide (Nhà thờ ở Head Tide) của Marsden Hartley cũng như  tấm tranh khổ lớn Accident (Tai nạn) mới đây của Donald Sultan đã nói lên sự tương phản này. Cả hai bức tranh vẽ trên masonite đều, đúng theo tính cách Hoa Kỳ, phát sinh từ lòng ham muốn thực hiện những thử nghiệm đa dạng đòi hỏi sự  tham dự cùng một lúc của mặt tranh, chất liệu và kỹ thuật. Ngoài ra, cả hai tác phẩm cùng đem đến một cái nhìn không rõ rệt lẫn phê phán về cảnh tượng Mỹ, được diễn đạt bằng một bút pháp vừa biểu hiện vừa chủ quan.


         Việc Marsden Hartley rời bỏ trường phái lập thể để tìm nguồn cảm hứng từ những hình ảnh khiêm nhường của nghệ thuật bình dân là dấu hiệu của một tâm trạng muốn gắn bó với sự thật; như khi chọn lựa một nhà thờ làm đề tài cho tấm tranh, người nghệ sĩ chứng tỏ cần in sâu truyền thống Mỹ vào tâm linh. Nhưng ngôi nhà thờ nhỏ đã bị bỏ hoang và những cái cửa sổ đen ngòm của nó ngăn chặn mất ánh sáng Cứu Thế... Tương tự như vậy, phong cảnh kỹ nghệ mà Sultan đã vẽ trong Accident bị che nghiêng bởi những đám mây đen dầy đặc, khác hẳn phong thái lạc quan rực rỡ của phái lập thể thực tế máy móc và cả của những nghệ sĩ pop sau này. Bức tranh, nhắc lại tai biến của nhà máy nhiệt ở Three Miles Island đã suýt gây ra một thảm họa chưa từng thấy, được xem như điềm dự báo sẽ xảy ra nguy biến. Tính phức tạp của hình ảnh, mối quan tâm về các chi tiết cùng thể thức bí ẩn và bi thảm, là tiếng chuông của một chiều hướng phê phán mới, báo hiệu sự tỉnh dậy của một ý thức lịch sử đủ khả năng để đánh giá và, cũng có lẽ, để kết hợp các tính phân cực truyền thống của tâm thức và nền hội họa Hoa Kỳ. 

Edward HOPPER - Western Motel - Khách điếm miền Tây. 1957.


Mai Ninh chuyển ngữ.





Barbara Rose, nhà nghiên cứu về nghệ thuật Hoa Kỳ ở thế kỷ XX.

(1) John F. Peto, Houston, Texas, Meredith Long Gallery.

(2) Bill Jensen, Newyork, Galerie Washburn.

(3) Georgia OKeeffe, Houston, Texas, Museum of Fine Arts.

(4) George L. K. Morris, Newyork, Galerie Washburn.

nguồn : ăn mày văn chương/ amvc.fr
Tranh ảnh : tư liệu của CHÂN PHƯƠNG

Friday, August 1, 2014

Tháng Bảy Mưa Ngâu


                                                                                                            bút ký  MIÊNG



THÁNG BẢY MƯA NGÂU…


 


 Ngày ngày chỉ thấy trên truyền hình Pháp các trận đá banh World Cup.  Mọi người có vẻ hân hoan, ai ai cũng tin tưởng nên gáy đội nhà sẽ thắng. Sóng Biển Đông không vỗ xa đến tận mười nghìn cây số, số phận chín mươi triệu dân Việt Nam không khiến dân Tây phải mấy bận tâm. Vậy mà xem truyền hình, tôi lại ngu quá, ngạc nhiên và buồn buồn sao chẳng ai nói tới một lời. Quên là một giàn khoan hay mười giàn khoan thì họ cũng  phê phán chính phủ Tàu chơi chớ không thể dang tay  kéo mình ra khỏi vực. Chỉ thấy người ta vô tư hỉ hả mà thèm…


Cuối cùng cũng có tiếng khóc của cả nước Brasil, nhưng không  ai chết, bệnh viện chẳng đầy nhóc người thương tích máu me, chẳng nhà ai có tang, không cha mẹ nào khóc con, và không một phụ nữ nào thành goá bụa hay một trẻ em nào thành kẻ mồ côi… Xa xa ở Trung Đông chuyện Gaza mới bắt đầu, cũng chỉ tin tức giới hạn, chìm nghỉm trong biển người phấn khích hát ca ở Đức. 


Hoạt cảnh đó truyền hình chắc sẽ còn chiếu thêm vài bữa nữa, nếu đùng một cái chẳng có chiếc máy bay của Mã Lai rơi. Tội nghiệp sao năm nay Mã Lai xui xẻo quá. Giới truyền thông từ giã các chàng cầu thủ ôm cúp vàng được dân chúng xem là anh hùng mang vinh quang về cho đất nước, để dồn sinh lực cho gần ba trăm xác chết. Chưa thấy xác nào, chỉ thấy giữa đồng lúa mạch đã chín vàng chưa kịp gặt hoặc trong ruộng hướng dương, từng nhóm người lầm lũi đi tìm, đầu họ chăm chú cúi nhìn như những cành lúa trĩu hạt, không hăm hở như trẻ con tìm trứng sô cô la trong ngày lễ Phục Sinh, như thời thơ ấu quê nhà tìm giun về câu cá, tìm dế  cho chúng đá nhau, trong khi những đóa hoa vàng vẫn vô tư ngẩng lên tìm ánh mặt trời. Thỉnh thoảng họ dừng lại, cắm cành cây ở đầu có cột rẻo vải trắng phất phơ , đánh dấu chỗ tìm thấy một sinh linh. Rồi màu sắc nào va ly, cặp học sinh, giày, hay búp bê lăn lóc cô đơn vì cô chủ nhỏ đã đi biệt mất rồi, nổi bật giữa bao  mảnh phi cơ cháy đen ảm đạm...


Chỉ vài ngày rồi chiến sự Gaza trở nên trầm trọng. Cũng nhiều nhóm người, nhưng  là lính Do Thái, và thay vì cành cây thì họ bồng súng, thay vì cúi tìm thì họ ngẩng mặt lên, dù xa xa không rõ nhưng chắc là đằng đằng sát khí. Họ cũng sải chân giữa ruộng hướng dương hay đồng hoa dại, nhưng thời thơ mộng thuở nào hái hoa đem tặng người yêu phút chốc trở nên xa lắc… Thanh niên thời chiến mới tội nghiệp làm sao!


Đây là tháng Ramadan.  Mà trên truyền hình chỉ có ánh mắt thù hận hoặc thất thần. Những thân hình khoẻ mạnh trẻ trung của đội tuyển đoạt cúp với nụ cười rạng rỡ và rừng cờ Đức phất phới tung tẩy hôm nào đã hoàn toàn nhường chỗ cho các thân thể máu me, què cụt, được khiêng chạy vội vàng giữa hai dãy phố chỉ còn là đống gạch hoang tàn hay sụp nghiêng lở ngả. Ban đêm, cảnh vật não nùng này được ánh hoả châu từ tít trên cao hắt xuống ánh sáng lờ mờ. Nhìn, hẳn không ít người Việt Nam liên tưởng đến thuở nào, dù không sống trong vùng bom đạn. Để chuyển tải thông điệp ra toàn thế giới, người ta cho trẻ con Gaza ôm búp bê mặt vấy vướng màu đỏ, để nói rằng chúng đang phải chịu đựng những điều lẽ ra không nên bắt chúng chịu đựng.


Thêm vào hai tin chính đầy đạn bom, bất an, chết chóc đó là cảnh xuống đường  bạo động ở Paris và vùng ngoại ô phía bắc. Người ta bàn bạc có nên cho hay cấm những cuộc biểu tình sắp tới. Phải cho chứ. Dân Pháp có quyền biểu tình, có luật biểu tình, và cảnh sát có bổn phận canh giữ cho những cuộc  biểu tình được bình an, suôn sẻ. Hơn hai chục nghìn người đổ ra đường ủng hộ Palestine, đòi hoà bình – và chính họ cũng xuống đường với vẻ hoà bình. Vậy là phong trảo chống chiến tranh thành công và nhà nước Pháp cũng thành công: vừa tôn trọng dân quyền, vừa giữ được trật tự. Ai cũng vui lòng.


Rồi đùng một cái, chiếc máy bay Algérie nổ tung triệu mảnh. Truyền thông dẹp bớt Gaza để dồn tin vào chuyến bay chưa tìm ra nguyên nhân ấy. Trong một tuần lễ mà 3 máy bay dân sự bị nạn, làm bao nhiêu người chết đã là điều lạ. Tổng thống Holland hoãn chuyến đi thăm các nước láng giềng, ở nhà “chia sẻ nỗi đau” của dân chúng. Chuyện thiên hạ đâu đâu thì chia buồn, tội nghiệp, nhưng con dân mình thì ruột rã rời từng khúc. Và Tổng thống tiếp gia đình các nạn nhân tại Điện Élysée. Thấy các ông bà lớn mà thương,  họ xuôi ngược xất bất xang bang, sáng đông chiều tây, lo méo mặt. (Thường sau những cú như vậy, điểm các ông tăng lên chút đỉnh. Dân họ tự do ghê lắm, buồn buồn lại đem từng ông bà lớn ra mổ xẻ, phân tích, phê bình, chấm điểm). Nước Pháp treo cờ rũ 3 ngày, coi như quốc tang.


Trong vòng mười ngày, từ vụ hai tàu lửa đụng nhau ở Pháp, tai nạn xe buýt ở Đức, khủng bố ở Kenya, ở Syrie, ở Liban, mưa bão ở vùng nam nước Pháp, tai nạn chở học sinh, tai nạn máy bay ở Đài Loan, khủng bố ở Nigeria, lại máy bay Algérie rơi! Rồi chiếc tàu Costa Concordia chậm chạp lê chuyến cuối cùng trong đời, được kéo  về Gênes để tháo ra từng mảnh, dân đảo Corse bất bình khi nó đi ngang, sợ bị ô nhiễm môi trường. Chẳng có tin gì vui, cứ như thể truyền thông chỉ muốn chuyển tải những chuyện kinh hoàng. Thỉnh thoảng chiếu sơ qua cuộc đua xe đạp hằng năm ở Pháp, hay sinh nhựt của “Hoàng tử bé” bên Anh lên một tuổi, nhưng cũng chỉ là tin phớt qua, chút vui này chẳng khuây khoả được mấy người. Vào giờ cơm mà toàn những tin làm bộ tiêu hoá bàng hoàng, khó hoạt động bình thường  được.  


Tin tức rộn ràng, nói sự thực cũng không hết kịp chớ làm gì “nói láo ăn tiền” được. Chẳng bao lâu trước đó, cựu Tổng thống Sarkozy bị thẩm vấn về những vụ nghi là lạm dụng uy quyền, tới nội bộ lem nhem của đảng UMP vạch áo cho người xem lưng, may nhờ có World cup cứu nguy chuyển hướng.  Nhưng nhà báo mà, tạm để đó, hết các vụ sốt dẻo tai nạn này thì buồn buồn, họ sẽ có cách hâm nóng tất cả lại đưa lên bàn… nhậu. Trong khi bên mình coi chững lại: tin giàn khoan rút đi cũng chẳng khiến ai mừng rỡ, mà dân Việt Nam vốn lạc quan nhất thế giới lại tỏ vẻ bi quan: nước cờ tiếp theo là Tàu muốn mưu đồ gì? 


Hồi cuối tháng 6 cô em họ từ Việt Nam sang,  hỏi bên mình truyền thông còn nói nhiều về vụ Biển Đông không, nhà nước có kiện Tàu không, dân có còn quan tâm hay mải xem đá banh. Cô ấy bảo ai xem đá banh cứ xem, ai lo việc nước cứ lo… Cũng như bên Tây vậy, những tai nạn động trời này dù khiến hầu như mọi người đều áy náy, nhưng ai phởn được cứ phởn, ai buồn bã cứ buồn. Trừ phi có cái chết nào cho là oan ức, họ mới tổ chức một buổi tối cầm hoa cầm đèn, lặng lẽ đi, vừa tỏ lòng thương tiếc vừa phản đối, phẫn nộ. Gọi là “Bước trắng”.


Tháng 7 không chỉ mưa ngâu nên đâu ch  hai người yêu nhau mới khóc…




 


Xuân Sương


Paris, tháng 7-2014

   

 nguồn: ăn mày văn chương amvc.fr

 

Sunday, July 27, 2014

Tương Lai NHA TRANG

                                                                                        du ký MIÊNG

Mỗi bận làm du khách quê nhà, mỗi bận đều thấy đất nước mình thay đổi. Chỗ nào cũng xây cất khách sạn bốn, năm sao sang trọng, nhà hàng cao cấp, cà phê sân vườn, nhà cửa đập cũ xây mới khang trang đẹp đẽ. Sài Gòn thì khu khách sạn bình dân Phạm Ngũ Lão lắm anh da đen ngồi chờ các chị da vàng tới mua, dân đàng hoàng ít ai dám lai vãng. Riêng Nha Trang càng ngày du khách Nga càng tấp nập. Mà chẳng chỉ là du khách, đã có vài cửa hàng chủ là người Nga trong Nha Trang Center mới mở vài năm nay.

Friday, July 25, 2014

Ghi Nhanh


                          TÂM SỰ CÙNG  “Thằng Mõ” và “Chẹc Chẹc


                                                                                                                    TÚ RỌI ghi nhanh

 

Một kiếp sống ổn định và an toàn, có lẽ là ước mơ của đại đa số con người trên thế giới này. Bức tường thành của sự thỏa mãn cuộc sống hiện tại đang ngày một cao lớn và vững chãi vây kín lấy tâm trí loài sinh vật thông minh nhất hành tinh . Vậy mà có những cá nhân, phải nói là “quái đản” so với phần đông kia, luôn tận dụng từng phút giây từng giọt sức sống từng hạt năng lượng từng cơ hội để chọc một cái lỗ ở bức tường kia, chui ra.

Số phận của những người luôn cố gắng vượt lên mọi khuôn khổ, như những đóa hoa vươn mình đón ánh ban mai, chưa bao giờ là những bức tranh màu hồng. Nếu không muốn nói, gian khổ đắng cay vất vả hay cô độc là những tính từ bao trùm lên cuộc sống của họ.

1. Tình cờ vào một buổi chiều nắng sắp tắt, tôi đã may mắn được nghe những lời chuyện trò tâm sự của hai người bạn, hai người nghệ sĩ già nhưng vẫn luôn đau đáu sự nghiệp cách tân nền nghệ thuật nước nhà, nhà thơ Nguyễn Đình Chính và nhạc sĩ Ngọc Đại.

Tôi và nhà thơ Nguyễn Đình Chính đang ngơ ngác trong khu nhà ở ven hồ Tây thì một người đàn ông đầu tròn trọc lóc vén tấm rèm cửa nhẹ nhàng vọng ra, “Chính à, đây, đây cơ mà, nhà Đại ở đây mà”.

Diện cái áo phông trắng cũ mèm cùng cái quần soóc kéo cao ( chắc là cho mát ), nhạc sĩ Ngọc Đại nở nụ cười tươi rói đón hai bác cháu tôi vào nhà. Nhà thơ Nguyễn Đình Chính thì tôi không lạ, luôn diện một chiếc áo phông bạc phếch đi kèm cái quần âu phủi đầy bụi đất, dáng người dong dỏng cao cùng mái tóc muối tiêu, ánh mắt hiền hiền cùng nụ cười thường trực trên môi.

Ngồi vào cái bàn tròn uống nước, nhạc sĩ Ngọc Đại khà khà sung sướng khoe nhà thơ về món nghề mới học được, đó là món nghề pha trà của nghệ thuật trà đạo, vừa nói nhạc sĩ vừa thoăn thoắt đôi tay lấy trà cho vào ấm rồi pha nước tráng trà đầy kĩ nghệ.

2. Nhạc sĩ Ngọc Đại mới đây ra mắt làng nhạc tác phẩm “Thằng Mõ”, phổ nhạc theo lời tập thơ “Chẹc Chẹc” của nhà thơ Nguyễn Đình Chính. Tác phẩm này gặp đủ chuyện khó khăn trên trời dưới biển, gặp nhiều ý kiến trái chiều từ cả dư luận cho tới những trí sĩ trong nước, nhưng nhắc tới nó thì hai người nghệ sĩ lại cười tưng tửng như đây là một việc hết sức bình thường, như là đã kinh qua chuyện này hàng vô số lần.

Nhạc sĩ Ngọc Đại trùng giọng như tỏ ý hơi tiếc nuối. Dư luận quay lưng với tác phẩm của ông là chuyện thường. Nhưng đến cả những tầng lớp gọi là “nhân sĩ trí thức” cũng hờ hững mới là chuyện đáng nói. Ông như lạc lõng với tất cả. Rầu rĩ khi bàn tới nền nghệ thuật nước nhà, tôi như mường tượng được bức tranh tối màu của những người tiên phong luôn loay hoay đục phá tìm một lối đi mới cho những tác phẩm của mình.

Tuy rằng con đường tìm tòi cái mới lạ không êm ái, nhưng nó không (chưa) bao giờ quật ngã được ông. Mỗi lần ông nhắc tới tác phẩm của mình, ông như sôi sục bầu nhiệt huyết trong mình. Chắc vì nhiệt quá, ông cởi phăng cái áo phông treo lên ghế, thản nhiên cởi trần lồ lộ cái bụng bia tròn ung ủng, đoạn đứng dậy cầm cái điếu cày rít lấy một hơi, tiếp tục hăng say kể chuyện.

Ông yêu ông quý ông trân trọng tình bạn với nhà thơ Nguyễn Đình Chính. Tập thơ Chẹc Chẹc của nhà thơ cũng thuộc dòng cách tân mạnh mẽ, gặt không ít gió mưa trong làng văn thơ nước nhà từ nhiều tầng lớp. Đã có những người cùng nghề, tỏ ý chê bai tập thơ này trước mặt nhạc sĩ Ngọc Đại. Ông đã đập mạnh tay xuống bàn , đứng dậy chỉ thẳng mặt chửi, chửi đanh thép không nể nang. Ông kể mà như đang chửi thật, mặt phừng phừng đứng dậy tay chỉ thẳng, giọng điệu vô cùng mạnh mẽ.
Châm điếu Thăng Long, nhà thơ bình thản, rít một hơi rồi mỉm cười vui vẻ nhìn ông bạn già đang mặt đỏ miệng quát tháo tay chỉ trỏ. Đúng là chỉ có tình bạn chân thật mới khiến vị nhạc sĩ kia “ra tay” bảo vệ bạn ghê gớm tới vậy.

3.Tâm sự mới biết, nhà thơ tặng ông nhạc sĩ bài thơ đã lâu, từ khi nó mới ra đời. Lúc đó nhạc sĩ bận bịu quá nên cũng không để ý. Vậy mà trong những tháng ngày ốm bệnh nặng, “hai tay sõng soài trên giường”, nhạc sĩ Ngọc Đại lại vô tình đọc tới những vần thơ mà người bạn tặng đã lâu, và như một liều thuốc kháng sinh đặc chế, ông như “bừng tỉnh”, tinh thần lại căng tràn năng lượng để ra đời tác phẩm sáng tạo gây chấn động tiếp theo.

“Thằng Mõ” đã ra đời như vậy. Và một bát phở cùng cốc cà phê sáng thay lời cảm ơn người bạn nhà thơ, đã mang tới cho ông một luồng sinh khí mới, một nguồn nhiên liệu mới cho ông tiếp tục nổ máy đi tiếp trên con đường gian truân mà vị nhạc sĩ đã chọn.

Tôi thật sự cảm phục ý chí và lập trường của cả hai người nghệ sĩ. Họ là điển hình của mẫu người không ngủ quên trên vinh quang. Cả hai đều lao động không ngừng nghỉ, mặc dù tuổi đã không còn trẻ ( cả hai đều đã xấp xỉ thất thập cổ lai hy ), nhưng tôi thấy tâm hồn họ còn quá trẻ so với cái thân xác đang héo mòn kia. Cái rốt ráo, vục vặc tìm kiếm ánh sáng mới luôn hiện hữu trong tâm trí họ. Và tôi tìm thấy ở trong đó, một cụm từ mà cả hai người đều nhắc đến, đều coi là cái đích cuối cao cả nhất để hướng tới trong những tác phẩm của mình, đó là sự “bừng tỉnh”.

Phải chăng, đám đông xã hội hiện nay như đang trong những cơn mê dài triền miên ?

Những tác phẩm điện ảnh kinh điển, văn chương lai láng hay âm nhạc hay bất cứ sản phẩm nghệ thuật hiện nay, nếu nói tới cái tầm đã chạm tới, thì đó là tầng cảm xúc. Xúc cảm thăng hoa, trái tim rúng động có lẽ đang mãnh liệt hơn bao giờ hết, hiện hữu trong mọi ngóc ngách, như một thứ nhu cầu cơ bản nhất của xã hội.

Nhưng nó không đủ mạnh để chữa căn bệnh u mê đã di căn tới gần như toàn bộ xã hội hiện nay. Thuốc giải, có lẽ chỉ có thể là cái thượng tầng của nghệ thuật chân chính mà hai ông (và có thể có thêm vài người nữa) đang cùng nhau lọ mọ tìm kiếm, quái đản, và cô đơn.

                                                                                                              TÚ RỌI

Sunday, July 13, 2014

TED KOOSER













Trên trang Da Màu  qua bản dịch của  Nhất Lang , tôi đã đọc lại mấy trang viết về chuyện bếp núc của nghề thơ (The Poetry Home Repair Manual) được Ted Kooser thuyết trình với phong thái từ tốn thân tình của một ngòi bút lịch nghiệm cùng bạn đọc có quan tâm đến thi ca hoặc đang nuôi mộng trở thành thi sĩ. Đọc Ted khiến tôi nhớ đến Rilke, thi hào đã từng viết “Những bức thư gửi một nhà thơ trẻ”, và không tránh khỏi có ý nghĩ so sánh hai lối truyền dạy kinh nghiệm. A/ Một đằng chịu ảnh hưởng từ các phong trào lãng mạn-tượng trưng Đức-Pháp nên dùng thuật đàm đạo tâm truyền chú trọng về phần tâm lý chiều sâu của chủ thể sáng tạo (Rilke); B/ Một đằng mang tính thực dụng Hoa Kỳ, phân tích rạch ròi kinh nghiệm với quá trình sáng tác một bài thơ với những mẹo (tips) cụ thể mà bất cứ ai cũng áp dụng được (Kooser).

Wednesday, July 9, 2014

chec chẹc






CHÀO VĨNH BIỆT 
         

                    ( tặng một bạn gái người LyBi )


chỉ cần một hạt mưa mùa xuân đang bay
mi (zê) đã nghe
hơi thở tuyệt vời tự do cuộc sống

Bới bèo ra bọ


Chủ Nhật, ngày 06 tháng 7 năm 2014

CHUYỆN XƯA - NAY MỚI NÓI - KỲ 18 : Bao giờ Việt Nam có tác phẩm lớn ?

nhà văn Nhật Tuấn

Bao giờ nhà văn Việt Nam có tác phẩm lớn ?

Đó là câu hỏi "xa xỉ" và phi thực tế ?

Bởi lẽ hiện nay các nhà văn chưa thực sự viết văn, họ đang viết một thứ văn chương tầm phào, nhàn nhạt tránh xa những đòi hỏi bức bách của đời sống. Công lý bị vùi dập. Cái ác đang tràn lan và đè bẹp cái thiện . Sự giả dối, nguỵ ngôn đang chiếm lĩnh các diễn đàn chính thống, những tiếng nói thực, những chân lý hiển nhiên bị xua đi như những "con chó dại " bị đuổi khỏi nhà. Những tội phạm cả xã hội lên án như tham nhũng ở VINASHIN, VINALINE, những tên quan tham “hạ cánh an toàn” mới móc túi xây biệt thự, sắm xe hơi... đều được bênh che một cách trắng trợn, bất chấp dư luận. Tham nhũng khắp nơi nơi. Tất cả những nhức nhối đó không hề thấy nhà văn nào lên tiếng trên báo Văn Nghệ, tạp chí Nhà văn - cơ quan ngôn luận chính thức của Hội nhà văn Việt Nam và hàng trăm tờ báo của các Hội địa phương.

Không một tác phẩm văn học nào dám đi đến tận cũng của tội ác để vạch mặt chỉ tên thủ phạm đích thực. Phần lớn các nhà văn viết chuyện "phòng the", chuyện "não tình", chuyện quá khứ được nhìn qua cặp kính "made in chủ nghĩa xã hội " chẳng khác gì nền kinh tế thị trường kéo theo cái đuôi "định hướng XHCN". Trong khi đó, bất kỳ thời đại nào, tác phẩm văn học lớn vẫn phải mang được những tiếng rên xiết, những tiếng khóc thầm và những khát khao cháy bỏng của thời đại.

Bởi vậy đòi hỏi nhà văn Việt Nam có tác phẩm lớn là chuyện hoang tưởng. Càng hoang tưởng hơn nữa khi các nhà văn bây giờ liệu họ có đang...viết văn ?

Lại một câu hỏi xem ra có vẻ...ngớ ngẩn. Hoạ mi thì phải hót, nhà văn thì phải viết, ấy thế mà mới đây trên VietNamnet, Thụ Nhân đã phải đặt câu hỏi :

" Nhà văn có đang viết văn?"

Nhà văn trẻ Nguyễn Danh Lam "mắc" làm báo để kiếm sống, văn chương chỉ là lúc "hở ra" trả lời :




"Để sống, tôi làm báo. Công việc “để sống” này thật cực nhọc. Mất thời gian vô cùng! Nhưng tôi luôn luôn có vài ba “tứ” truyện trong đầu. Hở ra vài giờ là viết ngay. Tôi tranh thủ thời gian ghê gớm lắm. Nhưng tôi nghĩ mình chẳng là thánh tướng gì, sống thì phải có nghĩa vụ hoàn tất mọi thứ công việc liên quan, đôi khi là những thứ công việc hài hước, quái gở nhất".




Thuận – Tặng thưởng Hội nhà văn VN 2006 đang lo viết về...mấy ông Tây chẳng dính dáng gì tới chuyện "trong nhà ngoài ngõ" ở xứ An- nam- mít- toòng :




" Tiểu thuyết tôi đang viết bắt đầu bằng đám tang của Guillaume Dustan - cái tên trụ cột của dòng văn học đồng tính đương đại Pháp. Ngay từ ngày chưa cầm bút, tôi đã bị ám ảnh bởi số phận các nhà văn, nhưng không có đủ niềm tin vào các phương tiện thông tin đại chúng. Một sự tình cờ đã cho tôi gặp rồi trở nên thân thiết với Lisa, mẹ của Guillaume. Về anh ta tôi biết cả một kho chuyện, nhưng phải đợi đến đám tang của Guilllaume, tôi mới được làm quen, mà cũng nhiều phần giả tạo, bàn tay giơ mãi cũng chỉ chạm lớp gỗ áo quan. Hoa hồng, nước mắt, điếu văn, truyền hình… Ông bố từng bỏ rơi gia đình ba mươi năm trước thút thít “Guillaume, cha vẫn nghĩ nếu con không thành nhà văn thì con sẽ là một Che Guevara”. Lisa không khóc, câu đầu tiên nói với tôi: “May quá, tìm được miếng đất ngay cạnh mộ Duras, đúng như nguyện vọng của Guillaume”.




Trần Thu Trang, nổi tiếng vì được các phóng viên VHVN "lăng xê" đang "nhăm nhe" viết...kịch bản phim vốn là mặt hàng đang rất được giá tại các Đài truyền hình quốc gia và đài hàng tỉnh :




" Nói là dự định thì cũng không hẳn nhưng hiện giờ tôi đang “nhăm nhe” học thêm kỹ năng viết kịch bản phim. Sở dĩ tôi muốn vậy vì có rất nhiều bạn đọc nói với tôi, họ muốn được thấy tiểu thuyết của tôi trở thành một câu chuyện trên màn ảnh. Đây cũng là hướng đi tôi xác định từ đầu, viết truyện, sau đó thì tìm cách biến truyện của mình thành phim. Tôi không dám nghĩ đến tôi của 10 năm sau đâu, phụ nữ sợ già, sợ xấu, sợ cũ, ngay cả trong văn cũng không ngoại lệ"




Cô nhà văn này chỉ sợ xấu, sợ già chứ không sợ văn chương của mình bị các cơ quan an ninh văn hoá nhòm ngó bởi lẽ đã có bao giờ cô dám viết ra ngoài những điều " Đảng nghĩ" đâu ( Nói theo kiểu Chế Lan Viên ngày xưa : "nghĩ trong những điều Đảng nghĩ".

Thế mới biết cái độc hại của mấy anh bồi bút ngày xưa còn " di căn" lâu dài đến con cháu đời sau). Với chữ thọ đeo sau lưng, tuy cô đang mài miệt viết văn, nhưng thực chất không phải là tạo ra những tác phẩm văn chương mà chỉ là một trò..."thể dục chữ nghĩa" bởi lẽ cái cô quan tâm trước hết là...chữ nghĩa chứ không phải chuyện "thời thế" :




" Viết văn là công việc với chữ nghĩa. Tôi nghĩ, mình chỉ có một điểm sáng duy nhất là thái độ tôn trọng chữ nghĩa. Tức là, nói hơi sáo mòn một chút, tôi có cái tâm, còn cái tài và cái tầm thì chẳng được bao nhiêu. Nhiều lúc thấy mình thiếu mạnh bạo, thiếu quyết liệt, thiếu bao quát, thiếu đủ thứ, tôi cũng đành đem lời cụ Nguyễn Du ra an ủi rằng "chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". An ủi vậy rồi lại cố thêm chút vậy.




Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần, dứt khoát làm "công dân thế giới", không cần quan tâm tới "chuyện xứ sở" vì hiện thực không là cái đinh gì với tác phẩm nên ngồi ở đâu Paris, New York, Bắc Kinh...đều viết được :




" Làm thế nào để thoát khỏi sự rườm rà trong cách nghĩ và viết, đó là điều tôi quan tâm. Tôi không phải là nhà văn hiện thực; hiện thực gần như không có giá trị gì trong tác phẩm của tôi. Trọng tâm của tôi là con người chung chung, không hẳn Việt Nam cũng không hẳn nước ngoài. Hiện thực ở đâu, đối với tôi cũng vậy thôi. "




Rõ rồi , "nhà văn trẻ" chỉ quan tâm tới "cách nghĩ" sao cho khỏi "rườm rà" thôi, còn "nghĩ gì cái gì" là điều không đáng quan tâm. Vậy là bác Đinh Thế Huynh hoàn toàn "yên tâm". Và thực ra văn chương không còn là cái "nghiệp" sinh tử như ngày xưa nữa, nó giống một thứ trò chơi như Nguyễn Ngọc Thuần nói :




" Sự kiên nhẫn và khả năng tập trung cao. Ngày trước tôi có thừa. Nhưng càng ngày tôi càng thiếu dần. Bây giờ, rất tệ, đôi lúc tôi còn phải đấu tranh với mình giữa ba việc: đi chơi, lướt web hay viết văn. Công tâm mà nói, để viết văn, phải có nghị lực lớn lắm".




Tất nhiên nếu không "mang lấy nghiệp vào thân" thì chọn "đi chơi" tốt hơn, t

ội gì "viết văn".

Câu hỏi thứ hai Thụ Nhân đặt ra không kém phần lý thú là :




" Bao giờ văn chương Việt Nam có được tác phẩm lớn?




Hỏi như vậy khác nào hỏi bao giờ có đa nguyên dân chủ. Bởi lẽ chỉ khi nào có đa nguyên dân chủ, nhà văn được giải phóng khỏi nỗi lo "bị vỡ nồi cơm" thì may ra họ mới khỏi vừa viết vừa run để đẻ ra được "tác phẩm lớn". Trả lời thẳng vào câu hỏi e rằng phạm vào chỗ "nhạy cảm" nên các nhà văn nhà thơ trẻ đều...lửng lơ con cá vàng . Nhà thơ Insara chắc ngại không trả lời trực tiếp nên vòng vo nói "sách ":




" Thế nào là tác phẩm lớn? Chúng ta vẫn chưa rốt ráo trả lời câu hỏi đó. Vấn đề nền tảng nhất với nhà văn mọi thời là hắn thường xuyên lưu trú nơi vùng ngoại ô của Quê hương. Nói theo ngôn ngữ của M.Heidegger: cư trú gần bên Nỗi chết. Hoặc quyết liệt như Đức Phật: Vô bố . Hay cụ thể và gần gũi hơn - W.Faulkner: nhà văn thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi. Chỉ khi đó hắn mới nói đến sáng tạo."




Nhà văn trẻ Nguyễn Danh Lam cũng đưa đẩy ngôn từ cho xa vùng "nhạy cảm" nên đưa ra khái niệm mơ hồ :




" Để có một tác phẩm lớn, ngoài phần ý thức có thể thu xếp được, tôi nghĩ còn một yếu tố không kém phần quan trọng, đó là “vô thức tập thể”. Nó như một thứ cấu hình được cài đặt sẵn tự khi sinh ra trong cỗ máy tính là mỗi nhà văn. Bề dày trầm tích này không phải “đi tắt đón đầu” mà có được. Nó như thể dầu mỏ, phải tích luỹ dài lâu dưới đáy sâu từng vỉa văn hoá. Và cá nhân mỗi người làm nghệ thuật, cùng những yếu tố liên đới, sẽ góp phần bồi đắp qua nhiều thế hệ. "




Cô Nguyễn Thuý Hằng, một cây bút mới ra lò, "tuyên ngôn" nhiều hơn là sáng tác cũng chỉ chung chung :




"Có lẽ ngoài yếu tố tài năng, tính chuyên nghiệp, vv… thì hiện nay nhà văn không cần bỏ quá nhiều năng lượng và sự quan tâm cho giới phê bình. Nghĩa là, một tác phẩm không nhất thiết phải có vài nhà phê bình nào đấy nhắc đến và viết phân tích chỉn chu thì mới được gọi là “tác phẩm lớn”. Thực tế cho thấy nhà phê bình đã không làm nổi công việc ấy. Vì vậy, tác phẩm lớn càng phải hội tụ nhiều yếu tố. "Theo tôi, tính tự quyết và tự khẳng định về giá trị nghệ thuật của mình là một yếu tố quan trọng trong quá trình sáng tác của nhà văn." 




Các nhà văn, nhà thơ có tuổi, ý thức trách nhiệm xã hội có vẻ rõ rệt hơn các cây bút mới ra ràng. Hồi mồ ma nhà thơ Phạm Tiến Duật, đã trao đổi với nhà thơ Phạm Đình Ân.




PHẠM ĐÌNH ÂN: Anh đã từng có đóng góp nhiều cho văn học nghệ thuật, thậm chí là thẳng thắn nói lên những yếu kém của văn học nước nhà. Vậy theo anh, cái yếu kém nhất là gì?

PHẠM TIẾN DUẬT: Tôi cho rằng, cái yếu kém nhất trong văn học, nghệ thuật hiện nay là tính ích kỷ. ..Trong đời sống, ích kỷ đã xấu rồi, trong văn học, nghệ thuật giặc ích kỷ còn rất tai hại. Chuyện đau buồn, tình phụ thì có thể nói thoáng qua trong một vài bài thơ nhưng khi nó trở thành chủ đề cho cả tập thơ thì có ích gì cho ai? Hay theo tôi, tự tô vẽ thương hiệu cho mình cũng là một sự ích kỷ, bởi chắc gì tác phẩm của anh đã hay, đã xứng tầm với cái vỏ bọc mỹ miều của những từ ngữ hoa mỹ (như chương trình “Bài hát Việt” chẳng hạn, có những bài chưa xứng đáng nhưng tự nâng mình lên…). Đời sống còn vô vàn những điều cần quan tâm, xã hội còn có rất nhiều người khổ sở, hà cớ gì mà văn nghệ không quan tâm đến họ?"




Muốn văn học quan tâm tới họ – những người cùng khổ , các nhà văn cần thoát ra khỏi cái bầu vú sữa của đảng và Nhà nước. Chừng nào tự kiếm sống được không cần dựa vào bất kỳ bổng lộc nào của Hội Nhà văn, chừng đó may ra mới có cơ hội viết được tác phẩm lớn.,.

Tuesday, July 8, 2014

Nhật Tuấn


Thứ Ba, ngày 08 tháng 7 năm 2014

HẺM BUÔN CHUYỆN - KỲ 168 

 Báo cáo Chủ tịch nước : “6 cột mốc sống khẳng định chủ quyền vừa mới bị…nhổ ạ !”

.







Tuần trước, nhà bà Năm đang quây quần thái củ cải, bất chợt có người chạy đến báo thằng Tới, con bà đi học về qua đường bị xe tải đâm ngang, nằm vật trên đường, đập đầu xuống đất và được đưa ngay vào viện . Bà Năm khóc toáng, réo thằng Bảy xe ôm chở bà tới phòng cấp cứu. Mãi chiều thằng Bảy mới về loan tin thằng Tới bị chấn thương sọ não chưa biết sống chết sao, bà Năm phải ở lại trông con, nhờ nó về lấy tiền đóng tạm ứng viện phí .
Thằng Bảy xe ôm ca cẩm :
“ Oi chu choa, tốn kém lắm, riêng trích thuốc mỗi ngày cũng cả triệu .Cô y tá nói thuốc tây lại mới tăng nữa, bởi vậy phải đưa trước chục triệu. Bà Năm phải lạy sống bác sĩ xin cứu chữa cho cháu, còn nước còn tát, hết bao nhiêu bà sẽ lo hết …”
Rồi nó lắc đầu :
“ Vét túi cả nhà được hơn năm trăm ngàn sao mà đủ…”
Ông Tư Gà nướng lên tiếng :
“ Đề nghị ông Ba đại tá hưu đứng ra tổ chức quyên góp..”
Ông đại tá hưu lắc quày quạy :
“ Tôi làm đâu có được, việc gì cũng phải đúng tuyến. Trước hết tổ trưởng trình bày cảnh sát khu vực, cảnh sát khu vực báo cáo Uỷ ban, Uỷ ban chuyển sang Phòng xã hội, nếu được phép rồi mới họp bà con…”
Gã Ký Quèn nổi cáu :
“ Qua ngần ấy cửa thì thằng Tới ngỏm củ tỏi . Tôi quyên góp 500 ngàn đây…ai góp nữa không ?”
Bà tổ trưởng vội vàng :
“ Ấy..ấy…để tôi báo cáo cảnh sát khu vực đã…”
Thằng Bảy xe ôm văng tục :
“ Báo cáo cái con c…Tôi góp 600 ngàn …”
Thấy mọi người xúm lại nhìn mình, ông đại rá hưu đành giơ tay :
“ Thôi được, khi cần kíp thì linh động không cần mời cảnh sát khu vực. Tôi góp 5 chục…”
Cả quán cười ồ . Ai đó nói bâng quơ :
“ Giàu mà sao hẻo quá vậy…”
Mặc dầu tiếng nói rất khẽ nhưng cũng lọt tai bà tổ trưởng. Bà này vội vàng :
“ Chuyện này hoàn toàn tự nguyện, tuỳ hỉ ai đóng bao nhiêu đóng, Uỷ ban đã có chỉ thị không được ép buộc …”
Thằng Bảy xe ôm giơ tay :
“ Tôi xin ủng hộ năm chục ngàn, ngoài ra chở bà Năm đi đi về về miễn phí…”
Ong đại tá hưu chữa thẹn :
“ Thằng Bảy xe ôm góp vậy phải rồi, trước nay bà Năm vẫn thuê mày chở củ cải mà…”
Thàng Bảy nóng mặt :
“ Chú nói vầy đâu có được , tôi góp là do tấm lòng tôi chớ đâu phải bà Năm là mối mới góp…”
Cô Phượng ca ve từ nãy vẫn im lặng, giờ bật dậy :
“ Tôi xin giúp 1 triệu …đã mang tiếng giúp thì cho ra giúp, năm ba chục ăn thua mẹ gì …”
Ong đại tá chạm nọc :
“ Cái con này ăn nói ngược ngạo, người ta muốn giúp nhiêu thì giúp chớ. Dân chủ tự nguyện mà…”
Chị Gái hủ tiếu giơ tay :
“ Tôi cũng tự nguyện góp 500 ngàn nè…”
Bà Tổ trưởng cao giọng :
“ Tôi góp 100…”
Rút cuộc trơ ra mỗi ông đại tá hưu là hẻo nhất. Ong im thít, mặt cứ tái xạm , gỉ tai bà Tổ trưởng :
“ Mẹ cái con ca ve sao lắm tiền thế, tôi nghi nó bán “ngáo đá” quá, thỉnh thoảng vẫn có người ra vào nhà nó…”
Bà Tổ trưởng cười cười :
“ Nó bán “cái đó” đó, không phải “ngáo đá” đâu ông ơi. Hôm nào ông chán cơm thèm phở cứ trốn cô Ba sang nhà nó…”
Ông đại tá hưu trợn tròn mắt :
“ Chị nói giỡn vậy đến tai vợ tôi tan cửa nát nhà…”
Ông Tư Gà nướng càm ràm :
“ Quyên góp cho ngư dân người ta còn góp cả trăm triệu …góp cho bà Năm củ cải vài ba trăm nhằm nhò mẹ gì …”
Ông đại tá hưu đập bàn :
“ Ông Tư Gà nướng nói vậy đâu có được. Ngư dân bây giờ là lực lượng xung kích trên biển. Như đồng chí Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nói : “Ngư dân còn bám biển, Tổ quốc còn chủ quyền”…”
Bà Tổ trưởng cũng hùa theo :
“ Đồng chí Chủ tịch còn nói :” Ngư dân là những cột mốc sống khẳng định chủ quyền…”
Cô Phượng cave thắc mắc :
“ Ngư dân đóng vai trò quan trọng vậy sao đảng không bảo vệ ngư dân hả chú Ba ?”
Ông đại tá hưu quắc mắt :
“ Ai bảo mày đảng không bảo vệ ngư dân..nào các đồng chí cảnh sát biển, nào các đồng chí kiểm ngư luôn sát cánh cũng ngư dân…”
Gã Ký Quèn cười hô hố :
“ Luôn sát cánh mà mới rồi Trung Quốc nó bắt cả tầu, lẫn 6 ngư dân ta mà chẳng thấy bóng dáng thằng cảnh sát biển, kiểm ngư đâu cả…”
Cô Phượng cave cười ré :
“ Vậy đã có ai báo cáo đồng chí Chủ tịch nước chưa hả ?”
Ông đại tá hưu sầm mặt :
“Mày muốn báo cáo cái gì ? Đã có các bộ phận chuyên môn, mắc mớ gì đến mày ?”
Cô Phượng cave vẫn cười :
“ Tôi muốn báo cáo đồng chí Chủ tịch nước 6 cột mốc sống khẳng định chủ quyền vừa mới bị…nhổ ạ…”
Cả quán cười ồ. Ông đại tá hưu mặt đỏ tía tai. Bà tổ trưởng ngoay ngoảy ra khỏi quán.


8-7-2013

Những hồi ức buồn


Khuất Đẩu

Đọc Sinh Nhật của Một Người Không Còn Trẻ của Lữ Quỳnh


Đến bây giờ tôi vẫn không bỏ được cái ý nghĩ không giống ai, rằng sinh nhật của một người giống như những trụ cây số trên đường thiên lý. Tôi đã đếm được bảy mươi tư trụ và Lữ Quỳnh cũng đã bảy mươi hai. Kể cũng đã khá nhiều. Nhớ lại những cột mốc đã qua, ai cũng thấy buồn nhiều hơn vui. Bởi vì con đường chúng ta đã đi, nói như Lữ Kiều, là con đường do lịch sử chọn chứ không phải chúng ta, những người lỡ sinh ra những năm bốn mươi, năm mươi. Cho dù có thắp lên những ngọn nến hồng thì vẫn buồn, nhất là thắp lên trong một đêm cuối đông ở xứ người mênh mông tuyết trắng.

Những ngọn nến thắp
Là hồi ức buồn.

Buồn vì lúc mở mắt chào đời / quê hương bừng khói lửa. Vì tuổi trẻ không mùa xuân / chúng tôi nghèo đủ thứ. Vì bây giờ trên chiến trường / cũng đám người rất trẻ / vội vàng đem máu xương / để giành từng thước đất.

Và họ đã ngã xuống tay còn thơm mùi giấy mới học trò. May mắn sống sót được thì:

Tuổi già mất bạn cũng mồ côi.
Một ly mình. Và một ly không
Quán hoa giấy chiều nay lãng đãng
Uống ngụm nắng tàn trong chiếc ly không.

Có thể gọi đây là bốn câu thơ đẹp nhất viết về tình bạn.

Thơ anh nhẹ nhàng, giản dị, nhưng buồn. Buồn lẻ loi, buồn cô độc. Buồn như những cột cây số trên đường đi của số phận. Bởi vậy, xin đừng tìm ở thơ anh những câu óng mượt điệu đà như của Nguyên Sa, hay mong manh nũng nịu như em tan trường về của Phạm Thiên Thư, mặc dù hai phần ba tập thơ là viết về người nữ.

Viết về người nữ tưởng là nhiều, thực ra chỉ có hai người. Người thứ nhất khi chưa có anh ra đời, là Mẹ.

Mẹ ơi con tắt đèn đi ngủ
Trời đã về khuya lạnh lắm rồi
Mưa gió ngoài hiên xào xạc mãi
Con nằm nhớ mẹ khóc không thôi.

Mẹ đã đi rồi con mất hẳn
Biết đến bao giờ trả khúc nôi
Mẹ ơi nhớ quá làm sao được
Con khóc thâu canh khóc cả đời

Nhớ mẹ, khóc. Ấy là lúc lên năm. Nhưng tuổi 16 sao lại khóc không thôi? Tuổi 16 theo tôi được biết là khóc gió thương mây hay khóc cho mối tình đầu. Ở tuổi đó, người con trai như tôi chẳng hạn, đã rất “hiên ngang” lên đường xa mẹ. Có người còn “tàn nhẫn” hơn: mẹ thà coi như là hạt bụi. Nếu không biết được một chút riêng tư, rằng anh mồ côi cha lúc một tuổi và mẹ anh đã bước thêm bước nữa, thì ta dễ có cảm giác bài “Nước mắt mùa đông” hơi sáo rỗng. Biết rồi, ta bàng hoàng thấy mình hạnh phúc hơn anh nhiều quá đỗi. Ta hung hăng lao vào đời như Don Quichote đánh nhau với cối xay gió, rồi ta thét gào «chẳng thiếu chi nhiều chỉ thiếu tình yêu» trong khi ta có cả một kho tàng đầy ắp tình yêu của mẹ. Ta tưởng rằng đầu đội trời, chân đạp đất là không cần tựa vào ai nữa cả. Thực ra, dù có sống đến một ngàn tuổi, bất cứ người đàn ông nào cũng cần có mẹ. Mất mẹ, hay có mẹ đâu đó trong cuộc đời nhưng không được ấp ủ chở che, là một mất mát thiếu sót không gì bù đắp nổi. Bài thơ hiền hậu của anh gieo vào lòng tôi những giọt lệ ăn năn. Những giọt lệ hoá thạch lăn vào lòng nghe rổn rảng, nhức buốt. Bây giờ, biết quý mẹ, thương mẹ, cần mẹ, thì mẹ đã không còn nữa ở trên đời!

Người nữ thứ hai là người sau khi anh đã sinh ra đời, người vẫn mặc áo len vàng tung tăng cánh đồng ký ức, người nay vẫn đẹp dịu dàng cao thượng mặc dù từ nay em đã là thiếu phụ. Tôi xin chép trọn bài thơ mà tôi cho là đẹp nhất, một bài tụng ca tình nghĩa phu thê còn đằm thắm lung linh hơn cả bài “Tình quê” của Hàn Mặc Tử.

Em vẫn đi về
Dòng sông ký ức
Vầng trăng đại vực
In bóng thuyền tôi

Tóc em mây trôi
Trên sông áo lụa
Thuyền tôi hạt lúa
Vàng lung linh vàng

Một chuyến đò ngang
Sông xưa mất ngủ
Từ em thiếu phụ
Lúa vàng thôi trôi

Từ em thiếu phụ
Tóc rối vành nôi
Hồn xanh bóng phủ
U uẩn lời ru

Sông em sóng nổi
Hạt lúa thuyền tôi
Vàng không bến đậu
Mù sa bãi bồi.

Người ta khen Trần Tế Xương đã làm bài thơ tặng vợ rất nghĩa tình và cho rằng nhờ những câu thơ: « quanh năm buôn bán ở mom sông / nuôi đủ năm con với một chồng», mà bà Tú Xương được người đời biết đến như một người đàn bà giàu đức tính hy sinh. Tôi lại cho rằng bài thơ ấy vẫn còn nặng mùi phong kiến, gia trưởng, một bài thơ hạ cố thương vợ chứ không thật sự trân trọng biết ơn như Lữ Quỳnh.

Với Lữ Quỳnh, người nữ lúc thiếu thời đẹp như dòng sông áo lụa. Và người nam như một con thuyền mang dáng hình hạt lúa, được sông nâng niu nên thuyền cũng lung linh vàng. Rồi một thời con thuyền phải làm chuyến đò ngang (chiến tranh) khiến con sông mất ngủ vì lo lắng và lúa vàng như chết lặng thôi trôi. Khi những đứa con ra đời là lúc tóc rối vành nôi, phủ hồn xanh mát bằng những lời ru u uẩn. Rồi bao ghềnh thác khiến sông nổi sóng nhưng vẫn đưa hạt lúa đến bãi bồi bình yên.

Bắt đầu những ngày bình yên
Ngắm mùa đông
Ấm áp trong tóc em
Trong ánh mắt reo vui
Bữa cơm chiều.

Một hạnh phúc đơn sơ, nhưng là hạnh phúc đề huề bình đẳng ngập tràn lòng thương quý lẫn nhau.

Năm khổ thơ, mỗi khổ 16 chữ, không thừa không thiếu chữ nào, cô đọng và đẹp như năm bài Haiku. Tiếc là bài thơ này đã không được Trịnh Công Sơn bạn anh, phổ nhạc, có lẽ vì anh kín đáo quá. Nhưng cần gì, cứ đọc lên ngân nga, ta cũng có cảm giác như đang hát thánh ca trong giáo đường lồng lộng của tình yêu.

Thơ là chỉ để cảm chứ không phải để bóc tách cho dù là để tìm ra cái Đẹp. Chính vì vậy mà tôi không nói tới cách dùng chữ, cách sử dụng hình ảnh, đó là những con dao giải phẫu mù loà. Tôi chỉ muốn nói điều sau cùng, rằng, thi sĩ mà không viết về người nữ thì không phải là thi sĩ. Nhưng viết về người nữ với tất cả tung hứng ồn ào là xúc phạm họ. Viết lặng lẽ, kín đáo với tất cả thâm trầm tinh tế như Lữ Quỳnh, cho dù là chỉ để riêng cho một người, quả thực anh đã là thi sĩ, dù cả một đời dài, chỉ một đôi khi quá xúc động, quá đớn đau và quá tuyệt vọng mới làm thơ.

Khuất Đẩu
Viết 2009.
2014 đọc lại, sửa đôi chút

* Những chữ in nghiêng trích thơ của Lữ Quỳnh

Lữ Quỳnh tên thật Phan Ngô, sinh 1942, tại Mỹ Lợi, Thừa Thiên.
Cựu học sinh Quốc Học. Làm thơ viết văn từ 1959. Trong nhóm chủ trương Ý Thức.

Nguồn: Tác giả gửi