Saturday, December 7, 2013

GIỌT LỆ TRONG HỒN ( 1 )

Xin giới thiệu đến quý độc giả “Giọt lệ trong hồn”, thông qua bản dịch tiếng Hung (”Kémek iskolája: Egy terroristanő vallomásai”, fordította: Gálvölgyi Judit, JGX Kiadó, Budapest 1994).

 tặng cuốn sách này cho người nhà các nạn nhân
chuyến bay 858 của Hãng Hàng không Triều Tiên.
Mọi thu nhập xuất phát từ cuốn sách đều dành cho họ.
Nguyên tác: The
Xin Tears Of My Soul
© 1993 by Kim Huyn Hee
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày 26 tháng Tư 1989. Hán Thành, Nam Hàn.
Tôi ngồi trong căn phòng đợi u uất, xám xịt dành cho các bị cáo, nghẹn thở chờ đợi bản án. Ngoài hành lang dẫn đến phòng xét xử, đám đông giận dữ chen lấn bên cánh cửa, tôi sợ họ sẽ tràn vào phòng. Tiếng gào thét đáng ghét vang lên, dường như cả tòa nhà cũng rung động trước những lời nguyền rủa.
Sát nhân, sát nhân, sát nhân…
Tôi chắp hai tay, toàn thân run rẩy. Những lời hò hét ấy dành cho tôi.
Không. Người ta hò hét với tôi.
Trong khi run lên vì những lời kêu la, tôi lại nghĩ đến các vụ án xét xử những kẻ phản bội ở Tòa án Nhân dân ngay sau khi nước Triều Tiên vừa thoát khỏi ách thống trị của Nhật. Giờ đây tôi mới hiểu bầu không khí hồi ấy cũng kinh hoàng biết nhường nào đối với những kẻ bị xét xử.
Mặc dù trong phòng còn có những người khác - một bác sĩ, một nữ y tá và ba điệp viên đặc biệt, hầu như sống cùng tôi trong những năm trở lại đây -, chưa bao giờ tôi cảm thấy cô độc hơn lúc này. Cho dù tôi cảm thấy những con người ấy rất gần gũi với tôi và họ cũng cảm thấy như vậy, điều này không quan trọng; tôi chờ đợi bản án, chứ không phải họ. Trong giây phút đó, tôi vô cùng ghen tị vẻ hồn nhiên của họ, tương lai của họ và một nỗi buồn ghê gớm xé lòng tôi.
Để tự an ủi, tôi cố gắng nhắc lại những dòng “Thánh Kinh” mà trước đây cha tuyên úy đã viết cho tôi, nhưng rồi cánh cửa bật mở và bốn cảnh sát bước vào trong bộ quân phục được hồ cứng, đeo phù hiệu lấp lánh, để đưa tôi vào phòng xử án. Họ bao quanh để bảo vệ tôi, như thế, họ cùng tôi chen chúc qua đám đông nhộn nhạo đang phát khùng. Căn phòng lập tức bùng nổ. Khi đó, lần đầu tiên tôi xuất hiện trước công chúng vì những cuộc xét xử không diễn ra công khai, chỉ đến khi tuyên án người ta mới cho quần chúng vào. Mọi người như một bầy ác thú bị bỏ đói, giận dữ, những lời nhục mạ, nguyền rủa trút như mưa lên đầu tôi. Nếu có thể, họ sẵn sàng xé tôi thành nhiều mảnh.
- Con nặc nô khốn nạn! - một phụ nữ đứng tuổi ngồi ở những hàng đầu suýt xoa. - Mày đã sát hại đứa con trai độc nhất của tao. Bây giờ ai là người chăm sóc tao đây?
Tôi cảm thấy thời gian như dừng lại trong quãng đường đến ghế bị cáo và khi rốt cục được ngồi xuống, tôi đã không thể tự chủ nổi. Tim tôi đập loạn xạ, người tôi run lẩy bẩy như cầy sấy. Tôi bật khóc nức nở và thầm thì nhắc đi nhắc lại một từ duy nhất: mẹ, mẹ ơi!
Dù mẹ có hình dung một số phận thế nào đi nữa cho con gái mẹ, chắc hẳn mẹ không nghĩ đến cảnh tượng này. Mẹ đã nuôi dạy tôi với tình cảm trừu mến khôn cùng và sự tận tâm hoàn toàn, và tôi cảm thấy tôi đã phản bội mẹ tôi. Trong khoảng khắc đó, tôi nghĩ đến cảnh mẹ tôi cẩn thận mặc bộ đồng phục nhà trường cho tôi, mẹ đính những ngôi sao chính tay mẹ làm lên áo quần tôi. Giá giờ đây mẹ được thấy tôi, hẳn tim mẹ sẽ ngừng đập.
Nhưng có một điều còn tồi tệ hơn thế nữa. Chẳng những tôi đã phản bội mẹ tôi mà tôi còn phản bội tổ quốc tôi. Chính phủ tôi chắc hẳn sẽ coi lời khai báo của tôi cho chính quyền Nam Hàn là một sự phản bội đê tiện nhất. Vì hành vi phản bội ấy, chẳng những tôi bị hắt hủi mà gia đình tôi chắc chắn cũng bị giam giữ trong một trại cải tạo lao động kinh khủng nào đó, và họ sẽ phải chịu đựng ở đó đến cuối đời. Tôi đã phá hỏng chẳng những đời tôi, mà cả đời họ nữa.
Bắt đầu những thủ tục hình thức, nhưng tôi không làm sao có thể chú ý đến chúng. Tôi hoàn toàn chắc chắn là người ta sẽ kết án tử hình tôi. Tôi đã làm nổ chuyến bay 858 của Hàng Hàng không Triều Tiên (Korean Air Line), tôi phải chịu trách nhiệm về cái chết của 115 người. Thật đặc biệt, nhưng cho đến khi tôi chưa bước chân vào căn phòng xử án có bầu không khí sôi động, tôi chưa nhận thức được đày đủ rằng tôi đã làm một việc kinh khủng đến mức nào. Mặc dù tôi đã đặt bom trên máy bay, tôi không nhìn tận mắt vụ nổ cũng như tôi không thấy địa điểm xảy ra tai họa và cho đến giờ, bằng một cách nào đó, tôi vẫn cảm thấy tôi chẳng dính dáng gì đến hành động này, như thế nó đã chẳng xảy ra hoặc tôi cũng không phải chịu trách nhiệm thực sự về điều đó. Nhưng khi nhìn thấy thân nhân những nạn nhân của tôi trong phòng xử án, cuối cùng tôi mới bắt đầu cảm nhận sâu sắc tính rùng rợn trong tội trạng của tôi. Tôi không dám liếc nhìn xuống cử tọa. Bởi lẽ tôi đã phá hỏng cuộc đời họ. Tôi không cảm thấy tôi có đủ nghị lực, đủ dũng cảm để làm điều đó.
Vài người phụ nữ đứng tuổi đã gây cho tôi nỗi dày vò kinh khủng nhất, những người này vẫn bám vào tia hy vọng rằng thực ra tai họa đã không xảy ra, rằng chính phủ Nam Hàn đang giữ kín các thân nhân của họ ở một nơi nào đó, nhưng họ vẫn sống.
Tôi khóc nức nở. Tôi muốn ôm chầm những con người đó, muốn nói cho họ hay tôi hối hận biết nhường nào vì hành động tôi đã làm.
Chừng hai năm trước, khi bắt đầu được nhận nhiệm vụ, người ta bảo rằng tôi phục vụ tổ quốc tôi ở mức độ cao nhất. Tôi đặt niềm tin vô điều kiện vào Kim Nhật Thành, Lãnh tụ Vĩ đại của chúng tôi, vị cứu tinh của Bắc Triều Tiên. Bằng hành động của mình, tôi đã không giúp hai nước Triều Tiên thống nhất như các thủ hạ của Kim đã hứa hẹn. Tôi cũng không trở thành anh hùng dân tộc như người ta hằng cám dỗ. Thực chất, tôi không còn là con người mà là một thứ quái vật vô giá trị, đáng khinh bỉ.
Đột nhiên tôi nhận ra mình vẫn nắm trong tay mẩu giấy mà cha tuyên úy đã chép trích đoạn “Thánh Kinh” cho tôi. Tôi không thể đọc được vì mắt nhòa lệ, nhưng tôi nhớ đại khái về nó:
Đừng sợ, vì ta ở bên ngươi;
Đừng tuyệt vọng, vì ta là Thượng đế của ngươi.
Ta khiến ngươi thêm nghị lực và ta giúp đỡ ngươi;
Bằng đôi tay, ta nâng ngươi lên.
Nhưng những lời lẽ đó cũng không an ủi được tôi. Tôi không thể tin rằng có một vị Thượng đế nào - dù đó là Thượng đế nhân từ nhất - lại có thể tha thứ cho những gì tôi đã làm.
Trong những tháng dài bị giam giữ, niềm an ủi duy nhất của tôi là chẳng bao lâu nữa, người ta sẽ cho phép tôi được chết. Một lần, cái chết đã lẩn tránh tôi: đó là khi tôi bị bắt ở sân bay Bahrein cùng Kim Sung Il, đồng đội khủng bố của tôi: theo lệnh, cả hai chúng tôi đều tìm cách tự vẫn bằng ống thuốc đựng chất độc giấu trong điếu thuốc lá. Kim đã thành công, ông chết ngay lập tức, nhưng không hiểu sao tôi thoát chết để rồi phải chịu đựng một mình nỗi đau đớn và ý thức tội lỗi bởi cảnh tượng đau buồn do hành động của tôi gây ra. Đồng thời, vì là người trẻ hơn, tôi cũng cảm thấy tôi phải sống thêm một thời gian và phải chịu đựng, đó là hình phạt xứng đáng đối với tôi.
Bỗng nhiên người ta yêu cầu tôi đứng dậy. Tôi hiểu là đã đến lúc bản án được tuyên bố. Vị thẩm phán hỏi tôi có muốn nói gì trước khi tuyên án. Tôi cố gắng lấy hết sức lực và cuối cùng, khó khăn lắm tôi mới lý nhí được những lời cụt lủn như sau:
- Giờ đây tôi đã hiểu được mức độ trầm trọng của hành vi tội lỗi do tôi gây ra. Tôi biết ơn rằng tôi đã có dịp nói lên sự thật và nhận biết sự thật. Tôi chỉ còn cảm thấy căm thù Kim Nhật Thành và tôi cũng không coi mình xứng đáng để xin bà con họ hàng các nạn nhân hãy tha thứ cho tôi.
Tôi im lặng vì tôi phải lấy hết can đảm để dám cất lời xin ân xá. Bởi lẽ, mặc dù tôi biết tôi đáng nhận cái chết và qua nhiều tháng trời ròng rã, gần như tôi mong mỏi được chết, nhưng đến giờ, khi tôi đã rất gần cái chết, khi cái chết đã có vẻ rất hiện thực, tôi lại kinh hoàng vì nó. Tuy nhiên, tôi vẫn không thể buông ra được một lời van vỉ. Tôi câm lặng vì tôi hiểu rõ sống sót còn tồi tệ hơn chết và cầu khẩn xin khoan hồng là một điều thảm hại và nhục nhã. Vậy mà, tận sâu thẳm tiềm thức tôi vẫn có một cái gì đó lên tiếng, thúc đẩy tôi nói. Đột ngột tôi có một cảm giác đặc biệt, rằng tôi còn phải làm một việc gì đó, tôi phải sám hối một cách nào đó. Tôi phải sống sót vì tôi còn…
Nhưng vị thẩm phán đã tiếp tục đọc liến thoắng bản án vì ông coi sự im lặng của tôi là dứt khoát và đột nhiên, tôi chỉ còn nghe thấy:
- Sau khi nhận được lệnh phải đặt bom làm nổ nổ chuyến bay 858 của Hãng Hàng không Triều Tiên do chính Kim Chính Nhật - con trai Kim Nhật Thành - đưa ra, và bị cáo đã thực hiện chỉ thị đó… Để biểu lộ mong muốn chặn đứng tất cả mọi người trước những hành vi tương tự, tòa án quyết định hình phạt nặng nề nhất. Và bây giờ, tôi tuyên án tử hình.
Đám đông òa lên ầm ĩ. Mặc dù đã tính đến bản án này, đột nhiên tôi thấy chóng mặt và đau nhói ở vùng dạ dày. Máu đông lại trong huyết quản tôi, tôi đờ người trong một khoảng khắc, nước mắt giàn dụa.
Vĩnh biệt cha mẹ, vĩnh biệt các em Hyun Ok và Hyun So, con không bao giờ còn nữa với cha mẹ, với các em.
Tôi được đưa khỏi phòng xét xử. May mà tôi đã bị chấn động đến mức những lời sỉ nhục và nguyền rủa rơi lả tả khỏi người tôi. Trên chiếc xe buýt nhà tù, một ước vọng mãnh liệt - được gặp lại gia đình một lần cuối - tràn ngập lòng tôi, dù tôi biết đó chỉ là một mộng tưởng hão huyền. Tôi nghĩ đến đứa em trai tinh nghịch và cô em gái tuyệt vời của tôi, và tôi cầu nguyện các em ít nhất cũng giữ mình hơn tôi, chúng đừng phải chịu một số phận như tôi. Và tôi lại nghĩ đến việc chính phủ Bắc Triều Tiên sẽ đối xử tàn ác như thế nào với họ. Độc lập với chuyện gia đình tôi hoàn toàn không biết gì về nhiệm vụ của tôi (thậm chí họ còn chẳng biết tôi đã trở thành một nữ gián điệp), họ cũng sẽ phải trả một cái giá khủng khiếp vì lời khai báo của tôi, vì tôi đã phản bội tổ quốc.
Tôi đau khổ. Tôi chỉ có thể làm một việc. Tôi đếm. Tôi tính từng ngày cho đến khi bị tử hình.

CHƯƠNG MỘT

Mỗi lần nghĩ đến những đứa trẻ hàng năm được sinh ra ở Bắc Triều Tiên và những em bé chào đời ở đó trong vòng bốn chục năm trở lại đây, từ khi đất nước được tự do khỏi ách thống trị của Nhật Bản, lòng tôi lại tràn đầy nỗi giận dữ. Người ta sẽ dạy dỗ cho mỗi đứa trẻ đúng những gì mà tôi đã được học, rồi chúng cũng sẽ tin vào những lời lẽ dối trá mà tôi đã từng tin. Thật là một tổn thất ghê gớm! Còn khủng khiếp hơn nữa là điều này có thể xảy ra. Nhưng dù sao, nó cũng giải thích được phần nào cái lý do đã thúc đẩy tôi hành động như thế.
Tôi sinh ngày 27 tháng Giêng 1962. Vì tôi là con đầu của mẹ tôi, mọi người, nhất là
ông bà tôi đều mong con trai. Như thế, khi tôi chào đời, mọi người cảm thấy thất vọng.
Tôi được sinh ra tại nhà ông bà ngoại ở Chang Song. Khi đó cha tôi ở xa, ông bà tôi giúp đỡ cha tôi chăm sóc tôi. Chẳng bao lâu họ thôi thất vọng, mẹ tôi kể rằng họ yêu quý tôi ngay và chăm tôi như một con búp-bê quý giá.
Cha tôi giữ một chức quan trọng gì đó trong Bộ Ngoại giao mà sau này tôi cũng không biết thêm được mấy. Trở về sau chuyến công tác bên kia bờ đại dương và nhìn thấy tôi lần đầu tiên, cha tôi đã dịu dàng và quý mến tôi như ông bà tôi và ông giữ tình cảm ấy đến thời gian trước đây bốn năm, khi đó tôi thấy ông lần cuối.
Theo thước đo của Nam Hàn thì chúng tôi không được liệt vào hạng trung lưu, nhưng theo chuẩn mực của Bắc Triều Tiên thì chúng tôi thuộc giới được ưu đãi. Chẳng hạn, lúc nào ở nhà tôi cũng có dầu ăn, chúng tôi có thể rán bất cứ thứ gì vào bất cứ lúc nào và điều đó được coi là xa hoa. Chỉ sau này tôi mới biết là ở miền Nam, dầu ăn là thứ thông thường và bất cứ ai cũng có thể rán thịt.
Chúng tôi sống ở Bình Nhưỡng, thủ đô Bắc Triều Tiên, trong một căn hộ nhỏ nhưng chúng tôi cảm thấy vô cùng may mắn vì gia đình tôi được ở riêng. Đa số những cán bộ ở tầm cha tôi đều được phân hộ cá nhân nhưng trong giới công nhân, nhiều gia đình sống chung một mái nhà là điều thường tình, đôi khi hàng chục gia đình phải dùng chung một nhà tắm.
Chừng một năm sau khi chào đời, cha tôi được cử đi Cuba và tôi đã trải qua những năm tháng tiếp tới ở La Havanna, tại đó chúng tôi sống cùng một phố với tòa đại sứ. Khi đó, Fidel Castro mới được bầu làm chủ tịch được ít lâu, và dù bầu không khí chính trị có phần hơi hỗn loạn, Cuba cũng được coi là nước phát triển hơn nhiều so với Bắc Triều Tiên. Chúng tôi sống cùng các gia đình nhân viên sứ quán khác trong một dinh thự khổng lồ, trước cách mạng vốn thuộc quyền sở hữu của một gia đình tư sản giàu có. Tòa nhà bị giản lược hóa và bị sửa lại vì thời xưa, nó được trang hoàng bởi nhiều pho tượng quý giá và các đồ vật khác, ví dụ những chùm đèn pha lê và bàn ghế mạ vàng. Những thứ này bị chuyển đi để tòa nhà không còn mang tính chất tư sản.
Thời đó, Cuba tự do hơn nhiều so với Bắc Triều Tiên và chúng tôi sống tương đối thoải mái. Sau này, mẹ tôi thường nói rằng ở Cuba, bà đã trải qua những năm tháng đẹp đẽ nhất của cuộc đời mình. Bà thích đi mua bán ở các siêu thị, tại đó chúng tôi luôn sững sờ vì có rất nhiều thực phẩm. Chưa được biết những nơi khác, tôi cứ ngỡ rằng trẻ con ở mọi nơi đều được sống như thế.
Mỗi trưa, một chiếc xe kem lại đi qua trước nhà tôi và tôi luôn chạy xuống, mang theo ít tiền lẻ.
- Heladero! Heladero! (Kem, kem ơi!) - tôi gào lên.
Mẹ tôi đặt cho tôi biệt hiệu Vua sô-cô-la vì tôi khoái sô-cô-la vô cùng.
Chúng tôi hay được mời đến những bữa tối ngoại giao và tôi rất chú ý đến những người lạ da trắng và da đen. Đặc biệt tôi mê các vị khách tóc vàng, tôi thấy họ khác thường và vô cùng lạ lẫm. Cùng lúc ấy, các nhân viên người Cuba làm việc trong sứ quán chúng tôi rất quý mến tôi, họ thường cưng nựng và bế tôi vào lòng.
Trên tầng một căn nhà chúng tôi ở, có một chiếc đàn dương cầm và ngày nào mẹ tôi cũng dạy tôi chơi. Bà học dương cầm từ thủa nhỏ và khá có tài. Sau này, khi trở về Bắc Triều Tiên, tôi được biết rằng tại đây hoàn toàn không thể có chuyện một gia đình thường dân lại có đàn dương cầm trong nhà. Chỉ những ai được phép học đàn để trở thành nghệ sĩ dương cầm chuyên nghiệp mới được quyền có đàn.
Những năm tôi ở Cuba là thời gian hạnh phúc như trong mộng. Tôi đùa nghịch cùng với những đứa trẻ khác, đáng nhớ nhất trong số đó là Kim Dzha Bong, con trai ông đại sứ. Thằng này hay đánh tôi để tiêu khiển, lúc nào nó cũng hành hạ tôi. Nó từng dùng đũa chọc thủng tấm đệm cao su mà tôi được tặng nhân ngày sinh nhật. Nếu tôi không muốn để ý đến nó, nó ra đứng trước nhà và bắt đầu gào lên:
- Hyun Hee, chơi với tớ đi!
Cứ thế, nó dai như đỉa: nó nhắc đi nhắc lại hàng trăm lần đến khi rốt cục tôi phải nhượng bộ và ra khỏi nhà.
Nhiều năm sau chúng tôi gặp lại nhau ở Bắc Triều Tiên, khi đó tôi là học sinh trung học. Một ngày, chúng tôi thấy nhau trên phố nhưng trước khi tôi kịp phản ứng, Kim bối rối liếc nhìn tôi và vội vã bước đi. Tôi biết cậu ta nhận ra tôi, dễ thấy là cậu ta cũng công nhận rằng thời xưa cậu từng là một thằng bé kinh khủng đến mức nào và tôi lấy làm thỏa mãn về điều đó.
Ấn tượng thuộc loại đẹp nhất trong thời kỳ này là vào một ngày kia, tôi thấy cánh cửa thông lên tầng thượng để ngỏ. Tôi đưa Hyun Ok, em gái tôi, cùng một vài đứa trẻ khác lên chơi trên đó. Chúng tôi ngồi trên gác thượng mấy giờ liền, thõng chân vung vẩy và hướng tầm mắt nhìn ra khoảng không xa xăm. Rồi một công nhân xây dựng người Cuba phát hiện ra chúng tôi, ông ta báo cho cha mẹ chúng tôi, mọi người mặt mũi tái nhợt nhào lên đưa chúng tôi về nơi an toàn.
Ngay từ những ngày tháng đẹp đẽ đó, chúng tôi đã bị nhồi sọ bởi những lời dạy của Kim Nhật Thành. Những câu đầu tiên mà chúng tôi học thuộc lòng là: “Chúng em biết ơn Kim Nhật Thành, Lãnh tụ Vĩ đại của chúng em”. Chúng tôi học căm thù mỗi khi nghe từ Nước Mỹ, ngay những trẻ nhỏ xíu cũng căm thù Mỹ sôi sục. Ở Bắc Triều Tiên, nước Mỹ được nhắc đến như “kẻ thù truyền kiếp, không đội trời chung”. Trong thời gian ở Cuba, cha tôi hay nói đến “cuộc tấn công đe dọa của đế quốc Mỹ”. Một lần, trên bờ biển (biển là một từ màu nhiệm đối với tôi, nó gợi nhớ những cồn cát vô tận và nước biếc) cha tôi chỉ vào một mảnh đất rất xa xôi nào đó ở đường chân trời mà tôi không thấy mấy.
- Đằng kia là Mỹ đấy, Hyun Hee ạ, đó là nơi tồi tệ nhất trên thế gian này.
Những lời của ông khiến tôi hoảng hồn. Tôi bắt đầu thấy sợ: nếu chiếc đệm cao su của tôi bị thả trôi và tôi bị dạt sang Mỹ thì sao. Tôi còn sợ cả những chai lọ và những vỏ hộp rỗng mà nước biển đánh vào bờ vì người ta bảo chúng từ Mỹ tới. Từ dạo đó trở đi, ít khi tôi dám mò xuống bờ biển.
Chúng tôi ở Cuba năm năm trước khi cha tôi bị triệu hồi về Bình Nhưỡng, trong thời gian đó em trai Hyun So của tôi cũng chào đời. Trước chuyến về nước, mẹ tôi đưa tôi đi phi-dê, bà nói ở Bắc Triều Tiên con sẽ không được làm đầu đâu. Lúc đó tôi còn chưa biết rằng cuộc đời tôi sẽ đổi thay vĩnh viễn.
Trở về Bình Nhưỡng, tôi được đăng ký vào Trường Phổ thông Cơ sở Hashin. Về thực chất, tại đây tôi mới bắt đầu được giáo dục về ý thức hệ. Các môn học chỉ chiếm non nửa thời gian của chúng tôi. Phần còn lại của ngày, chúng tôi học hỏi sự nghiệp của Lãnh tụ Vĩ đại Kim Nhật Thành. Chúng tôi học thuộc lòng bài hát “Ngu xuẩn”, kể về chiến thắng của Kim Nhật Thành trước quân Nhật bao nhiêu năm về trước. Người giáng cho lũ Nhật một đòn chí mạng khiến chúng chỉ còn biết ôm đầu chạy về nước, không kịp mang theo tử thi những kẻ bỏ mạng.
Ngoài những giờ học đầy tính tư tưởng, mọi học sinh đều phải tham gia nhiều hoạt động và những hoạt động này được tăng cường tới mức thường thường chúng tôi chỉ về đến nhà sau mười giờ tối.
Mùa đông năm thứ ba, người ta chọn mười đứa trong số chúng tôi để ca hát trong một buổi lễ thanh niên và họ nói đích thân Kim Nhật Thành cũng sẽ tới dự. Chúng tôi học hát trong hai tháng trời, bài hát có cái tựa đề “Chúng em yêu bộ đồng phục mà Lãnh tụ Vĩ đại đã trao cho”. Trong thời kỳ ấy, sau những buổi tập dượt tôi luôn phải chờ chuyến xe buýt đêm khuya, đôi khi tôi phải chờ đợi nhiều giờ đồng hồ khiến rốt cục chân tôi lạnh cóng. Tuy vậy, trong thời gian thử thách này, mặc dù nhớ nhà nhưng không bao giờ tôi phàn nàn vì tôi biết được hát cho Lãnh tụ nghe là một vinh dự lớn lao biết mấy!
Trong năm đó có một trận lụt lớn, do đó những người sống ở tầng một ngôi nhà chúng tôi phải chuyển lên ở tạm cùng các gia đình khác tại các căn hộ trên tầng cao hơn. Bọn trẻ coi đây là một trò giải trí, chúng tôi ở suốt đêm trên tầng thượng và nhìn con nước dâng cao dần.
Ít lâu sau trận lụt, người ta lưu truyền một tin vịt là chiến tranh đã nổ ra với Mỹ vì con tàu chiến Pueblo bị đánh chìm. Ở Bình Nhưỡng, bầu không khí ngày một căng thẳng, mọi gia đình bắt đầu gói ghém quần áo và lương thảo, cả thành phố chuẩn bị đi sơ tán. Các khẩu hiệu, biểu ngữ xuất hiện trên đường phố: LẤY THÙ ĐỊCH TRẢ LỜI THÙ ĐỊCH, LẤY KHỦNG BỐ ĐÁP KHỦNG BỐ. Chuẩn bị cho chiến trận, người lớn cố gắng đến kiệt sức nhưng bọn trẻ thì được dịp tiêu khiển thỏa thích. Chúng tôi cuỗm đi những đồ ăn đã được gom góp và thích thú theo dõi hậu quả. Đôi lúc, chúng tôi bị đánh thức bởi những hồi còi báo động - thúc mọi người tắt đèn - và khi đó chúng tôi lại leo lên gác thượng nhìn thủ đô Bình Nhưỡng chìm trong bóng tối. Khi khác, thường thường vào hồi bốn giờ sáng, các hồi còi phòng không lên tiếng, chúng tôi bổ nhào khỏi giường và lao đến căn hầm ở sườn đồi gần đó.
Trong thời gian này, hai cố vấn gần gũi của Kim Nhật Thành là Ho Bong Hak và Kim Chang Bong bị thất sủng. Chính phủ ra một chỉ thị xóa tên tuổi họ khỏi các bộ sách giáo khoa. Theo phong cách Orwell đặc thù, đồng thời, lũ trẻ con phải dùng mực đen hoặc dao díp để xóa bỏ tên họ trong sách vở. Họ trở thành những con người không tồn tại.
Vì lẽ hoạt động tập thể quan trọng hơn học tập nên chúng tôi bỏ rất nhiều thời gian để hoàn thành những nhiệm vụ trong Thanh niên quân. Khi Kim Nhật Thành ra chỉ thị cấm phụ nữ mặc quần vào mùa hè, bọn trẻ con được đi tuần trên đường phố và kiểm tra trang phục những khách qua đường. Nếu một phụ nữ vẫn mặc quần hay ai đó không đeo huy hiệu Kim Nhật Thành, lũ trẻ chúng tôi lục vấn tên họ và lập tức báo cáo trường hợp đó cho cấp trên, nơi họ làm việc.
Chúng tôi được dạy rằng tổ quốc chúng tôi chỉ có thể chiến thắng đế quốc Mỹ nếu Bắc Triều Tiên mua vũ khí ngoại quốc, do đó chúng tôi phải bỏ nhiều giờ đồng hồ đi thu nhặt sắt vụn, chai lọ và nhiều loại vật liệu khác, có thể tái chế biến, để bán cho nước ngoài đổi lấy ngoại tệ. Phải thu lượm theo một chỉ tiêu được định trước và nếu có ai không làm nổi việc này, kẻ đó sẽ bị quở trách công khai. Một cuộc thi đua lớn diễn ra xem ai nhặt nhạnh được nhiều hơn.
Chúng tôi còn phải thu lượm da thỏ và chó, ngoài ra, cả dòi bọ nữa (cho đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao). Tìm dòi bọ dễ nhất là ở các hầm phân của hố xí công cộng, tại đó chúng không bị nước cuốn đi và chúng tôi cũng đua nhau kiếm dòi bọ. Chúng tôi cũng phải thu thập cả phân nữa! Khi được một lượng kha khá, người ta chở cho nông dân để ủ, còn những kẻ nhặt nhạnh được xếp hạng theo chất và lượng phân đã thu nhặt. Về sau, khi mọi thứ đều được bán theo phiếu, thứ hạng này tương đối có giá trị.
Nhưng khó khăn nhất vẫn là thu lượm hoa. Bởi lẽ chúng tôi phải hái hoa đặt trước tất cả các pho tượng Kim Nhật Thành trong vùng, và có rất nhiều những bức tượng như thế. Ở Bắc Triều Tiên không có các quần bán hoa nên chúng tôi chỉ có thể hoàn thành chỉ tiêu bằng cách mua chuộc những người làm việc trong các nhà kính trồng hoa trong vùng.
Suốt ngày chúng tôi phải tham gia các hoạt động đủ loại. Ngay trong kỳ nghỉ hè, đi nghỉ cùng gia đình cũng là điều không tưởng! Thay vào đó, chúng tôi phải làm thêm việc trong Thanh niên quân.
Trong thời gian này em trai thứ hai của tôi ra đời, đứa em nhỏ xíu tuyệt vời ấy được cha mẹ tôi đặt cho cái tên là Bam So.
Ấn tượng đặc biệt và tuyệt diệu nhất trong thời thơ ấu của tôi là tôi trở thành tài tử điện ảnh! Một nhà làm phim đến trường tôi tìm một cậu bé và một cô bé cho bộ phim sắp tới; ông ta nhìn thấy tôi và chọn lựa tôi mà tôi không hề biết. Bộ phim có tựa đề như sau: “Yung So và Yun Gok, những người đã tìm thấy tổ quốc xã hội chủ nghĩa của mình”. Cố nhiên theo con mắt phương Tây thì bộ phim hơi kỳ, nhưng tôi thấy khá hấp dẫn vì tôi được chọn để thủ vai Yun Gok.
Tấn bi kịch còm cõi không che giấu được mấy tính chất tuyên truyền của bộ phim. Phim nói về một gia đình bị đoạn tuyệt sau khi Triều Tiên bị chia cắt thành hai nước. Cuối cùng, người mẹ bị lính Mỹ bắt đi, bà phải xa cách khỏi gia đình; đó là hình phạt dành cho bà vì đã che giấu, cưu mang những người lính Bắc Triều Tiên. Về những bộ phim như thế, tôi lại nghĩ đến Orwell - từ sau dạo đó tôi đã có dịp đọc ông -, chúng khiến tôi nhớ đến cái nghi thức mang tên “hai phút căm thù” trong tác phẩm “1984″. Cuối buổi chiếu, khán giả chửi rủa ầm ĩ lính Mỹ, đôi khi họ còn ném đá lên màn ảnh nữa.
Thời đó tôi còn bé để hiểu tất cả những điều này và tôi ngây ngất khi sau thời gian đóng phim, tôi trờ về trường và được đón tiếp như một anh hùng. Khi bộ phim bắt đầu được trình chiếu, tôi trở nên khá nổi tiếng. Mọi người nhận ra tôi ngoài đường, gọi tôi bằng cái tên Yun Gok trong phim. Mẹ tôi giới thiệu tôi cho các vị khách, các thày cô giáo cũng làm thế trong nhà trường. Chỉ có cha tôi là không ưa việc tôi đóng phim và cứ mỗi lần ai đó nhắc đến bộ phim, ông lại cau mày nhăn nhó.
Tôi còn đóng một bộ phim khác nữa. Phim này kể về một thiếu nữ được Quân đội nhân dân cứu mạng trong khói lửa, lúc đó những người lính rút lui về phía Bắc trong cuộc chiến Triều Tiên. Tôi thủ vai cô bạn gái của diễn viên chính. Để trả công, tôi được một chiếc cặp sách mới tinh và mười cuốn vở; chẳng nhiều nhặn gì cho lắm!
Về sau tôi cũng được mời tham gia các phim khác nhưng cha tôi không cho tôi đóng phim. Thay vào đó, tôi chú trọng đến Thanh niên quân. Cứ vào bảy giờ sáng, đài phát thanh duy nhất của Bình Nhưỡng lại chơi bản hành khúc “Thanh niên quân”.
Chúng ta là những anh hùng trẻ tuổi của nước cộng hòa,
Chúng ta sẽ trở thành đội tiên phong của chủ nghĩa cộng sản.
Thanh niên quân, nâng cao lá cờ Đoàn,
Chào mừng Chủ tịch của chúng ta như người cha,
Và tiếp tục vui tươi tiến bước!
Chẳng bao lâu tôi trở thành người phụ trách trong Thanh niên quân và tôi gắng sức để tổ nhóm của tôi trở thành tấm gương cho các tổ khác. Mặc dù chúng tôi khá thành công nhưng không bao giờ tôi có thể duy trì một kỷ luật thực sự, không bao giờ tôi có thể tự nguyện áp đặt lên bạn bè tôi.
Những kết quả trong nhà trường luôn được thông báo một cách công khai. Trong trường, chúng tôi được nhận bốn loại điểm số: điểm cách mạng, điểm học tập, điểm lao động và điểm đạo đức. Trong các giờ cách mạng, ví dụ thày giáo đưa ra một tấm ảnh về cuộc đời Kim Nhật Thành và học sinh phải giải thích những gì mình thấy. Lúc ấy, đứa trẻ mắt ngời lên rạng rỡ, nó nhìn chăm chú vào tấm hình và bắt đầu tuôn ra:
- Trong tấm ảnh này Chủ tịch Vĩ đại của chúng ta đang hạ lệnh truyền bá cuộc đấu tranh vũ trang trên phạm vi toàn thế giới. Chủ tịch Vĩ đại của chúng ta tuyên bố điều đó trong hội đàm của các đại biểu Quân đội nhân dân Cách mạng năm 1930.
Một học sinh, nếu trả lời tốt, sẽ được cho một điểm đỏ cạnh tên cậu ta trong cột “Cách mạng” trên tấm bảng thông báo.
Vì tôi là phụ trách thanh niên, các thày cô thường xuyên tìm đến tôi để yêu cầu tôi giúp họ đưa những biện pháp cảnh cáo các đồng bạn không đạt yêu cầu. Tôi còn nhớ cứ mỗi lần ai đó bị sỉ nhục vì không hoàn thành các chỉ tiêu này khác là từng học sinh trong lớp lại phải nói đôi lời chỉ trích. Tôi luôn cảm thấy lo lắng vào những dịp như thế vì tôi rất ghét trò phê bình bạn bè, nhưng thày giáo nhìn tôi bằng cái nhìn cứng rắn khiến tôi phải cố gắng nói với giọng bình thản:
- Bạn bảo bạn không hoàn thành định mức vì bạn không có thời gian. Thế mà hôm qua tôi vẫn thấy bạn chơi đùa với những đứa khác. Thật khó tin là bạn có thì giờ để chơi mà không có thì giờ làm việc. Lý do bạn nêu ra cho thấy bạn đã vi phạm lời dạy của Lãnh tụ Vĩ đại, Người dạy chúng ta phải trung thực với đời sống tập thể.
Mọi người vỗ tay, thày giáo gật đầu tán thưởng. Tôi không thấy vui khi tôi ngồi trong tư thế cứng đờ để lắng nghe một ả tên là San Yung, cô này cảm thấy hạnh phúc nếu được dịp lăng mạ kẻ khác.
- Đồng chí học sinh, bạn không xứng đáng được học hành trong tình thương yêu của Người cha, vị Chủ tịch của chúng ta. Bạn đáng bị đuổi ngay lập tức khỏi trường.
Hàng tuần, nhưng cuộc hội họp tương tự được tổ chức hai, ba bận. Sau đó, chúng tôi bắt đầu nhìn những người trong gia đình bằng con mắt phê bình. Với chúng tôi, tệ nhất là không tìm ra nổi một thứ gì đáng phê bình
Trong năm cuối phổ thông trung học, tôi được nhận vào học khoa Sinh vật trường Đại học Kim Nhật Thành. Đó là đại học duy nhất ở Bắc Triều Tiên có thể sánh với các trường Mỹ, nhưng chỉ con cái các cán bộ cao cấp trong chính phủ mới được theo học ở đây. Như trong mọi cơ sở giáo dục khác ở Bắc Hàn, tại đây việc học tập tư tưởng cũng được nhấn mạnh, chủ yếu chúng tôi cũng phải nghiên cứu tư tưởng Kim Nhật Thành.
Trước khi thi tốt nghiệp, tôi tham gia kỳ học quân sự kéo dài nửa năm. Đây là điều
bắt buộc đối với mọi học sinh. Khi bắt đầu vào đại học, tôi khoái trá vì mọi thứ đều được tổ chức theo kiểu quân sự. Mỗi lớp học được gọi là trung đội, mỗi tổ bộ môn được gọi là đại đội, nhóm các học sinh tốt nghiệp được gọi là tiểu đoàn, v.v… Chúng tôi gọi giáo viên chủ nhiệm là thiếu úy và gọi trưởng phòng giáo dục là đại úy.
Những người tốt nghiệp Đại học Kim Nhật Thành suốt đời được làm nghề tốt và chỉ những kẻ thật ngoại lệ mới được nhận vào trường. Nhưng dù có được ưu đãi đến đâu đi nữa, tôi cũng thấy khó theo đuổi việc học hành vì phần lớn thời gian rỗi của mình, tôi phải tham gia công việc đồng áng tự nguyện tại một hợp tác xã ở vùng lân cận. Vì vậy, cha tôi khuyên tôi chuyển sang trường Cao đẳng Ngoại ngữ Bình Nhưỡng; trường này cũng đảm bảo chỗ làm việc tốt sau khi học sinh tốt nghiệp, nhất là đối với các nữ sinh. Cha tôi lo liệu cho tôi thi vào trường, tôi thi cử thành công và được vào học khoa tiếng Nhật.
Đây là một quyết định thảm khốc. Nếu tôi không chuyển trường và không học tiếng Nhật, chẳng bao giờ người ta tuyển tôi làm gián điệp. Cố nhiên lúc đó tôi nào có biết sự thay đổi này sẽ có những hậu quả như thế nào…
Tất nhiên kỳ học quân sự bắt buộc vẫn tiếp diễn. Được đưa về những trại huấn luyện ở nông thôn, tại đây chúng tôi tập bắn súng và hành quân trong nhiều ngày dài. Điều này đặc biệt nặng nề đối với phụ nữ nhưng dưới ách thống trị cộng sản, phụ nữ được coi là bình đẳng với nam giới và họ cũng phải trải qua một kỳ huấn luyện ngặt nghèo như nam giới. Thường thường chúng tôi phải thay quần áo trong các nhà vệ sinh chật chội và bông vệ sinh dùng cho mỗi kỳ kinh nguyệt cũng hay thiếu thốn.
Cuộc sống thật khắc nghiệt. Trong nhiều ngày liền chúng tôi hành quân trong những rặng núi non. Chúng tôi học cách nhận biết và sử dụng các loại vũ khí khác nhau, cũng như học lái các loại xe cơ giới dùng trong quân đội. Chế đô ăn uống khá tồi tệ, nhiều người gầy rộc đi. Trong những cuộc hành quân dài dằng dặc, đôi khi tôi cảm thấy như mình không thể đứng vững nổi. Anh thiếu úy tại ngũ, một thanh niên điển trai chừng hai nhăm tuổi, thường chờ tôi và khích lệ:
- Cố lên đi, Hyun Hee, đừng rớt lại! Là con gái thì cũng phải là cớ để cô tụt hậu. Ở đây chúng tôi đối xử bình đẳng với nam và nữ.
Có điều, tôi nhận thấy người ta coi phụ nữ như những kẻ thụ động chứ không phải chủ động và vì thế, chúng tôi còn bị bắt luyện tập thường xuyên hơn và nghiêm ngặt hơn. Hai loại thước đo này khiến tôi tức giận, nhưng rốt cục tôi cũng cảm thấy mình đủ mạnh và đủ khéo léo như bất cứ một người đàn ông nào.
Sau thời gian tập luyện, chúng tôi đã có thể đi bộ liên tục hơn ba chục cây số với chiếc ba-lô 14 cân. Chúng tôi sử dụng thành thạo súng lục và súng máy, chúng tôi còn biết lái xe tăng nữa. Chúng tôi tập ném lưu đạn, sử dụng cao xạ pháo, chúng tôi biết cách bắn loại tên lửa chống tăng.
Tôi cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm khi được trở về ký túc xá ở Bình Nhưỡng và tôi học cật lực để bù lại thời gian nghỉ. Thanh niên nam nữ không được phép hẹn hò nhau nhưng cũng có vài người chấp nhận mạo hiểm. Những ai bị bắt quả tang sẽ bị đuổi học, có người còn bị đưa đi cải tạo lao động tận miền cực Bắc. Chúng tôi phải đi khám bác sĩ đều đặn, là phụ nữ, tôi còn phải khám phụ khoa. Bằng cách đó, các nhà chức trách có thể biết rằng chúng tôi còn trinh.
Nhìn lại, tôi cũng không hiểu khi nào tôi có thì giờ để ngủ nghê. Cuối tuần, chúng tôi giúp việc trong các hầm mỏ và luôn luôn có một cuộc họp cách mạng mà chúng tôi phải tham gia. Thật là một phép màu thực sự khi bên cạnh đó, tôi còn phải học tiếng Nhật, nhưng chẳng mấy chốc tôi đã nói trôi chảy và tôi được những điểm số xuất sắc.
Trong học kỳ hai, khi đó tôi mười tám tuổi, một bận tôi bị triệu lên văn phòng khoa. Một người đàn ông chờ tôi ở đó, chiếc huy hiệu hình quốc kỳ trên ngực áo chứng tỏ ông ta thuộc Trung ương đảng.
Lãnh tụ Vĩ đại Kim Nhật Thành và Lãnh tụ Kính yêu Kim Chính Nhật - Ảnh: BBC
- Nữ đồng chí Hyun Hee - ông ta quay về phía tôi khi tôi vừa bước vào phòng -, chắc hẳn đồng chí đã được học hỏi về cuộc đời Lãnh tụ Kính yêu Kim Chính Nhật của chúng ta? Đồng chí có thể nhắc lại một sự kiện nào đó không?
Tôi do dự trong khoảng khắc rồi tôi chợt nhớ đến câu chuyện xảy ra ở vùng núi Pektu, khi Kim Chính Nhật đến thăm chiến địa - nơi cha ông, Kim Nhật Thành đã đạt được một chiến thắng lớn -, và ông lên tiếng động viên các công nhân hãy lao động hăng say hơn để sửa sang hiện trường, và ông còn đưa ra vài chỉ dẫn có ích cho công việc của họ.
Khi tôi vừa dứt lời, người đàn ông hỏi:
- Cha cô làm ở đâu và trên cương vị gì?
Tôi nói.
- Tuyệt vời. Còn một điều nữa. Cô học giỏi chứ?
Ông ta hẳn đã biết điều này vì tôi là thành viên Ủy ban nghiên cứu lịch sử cuộc đời và sự nghiệp của Kim Nhật Thành và chỉ có mười nữ sinh xuất sắc nhất trường mới được tham gia ủy ban này.
- Tất nhiên - tôi đáp, hơi bực dọc.
Ông ta cho tôi ra về. Cũng trong tuần đó, các nữ sinh viên phải xếp hàng trong phòng thể thao để một nhóm đàn ông - đến thăm trường - có thể ngắm nghía chúng tôi. Khi thấy ai đó có vẻ xinh xắn, họ ghi lại tên cô ta.
Khi ra khỏi phòng thể thao, một người đàn ông gọi tôi ra một bên và ra lệnh cho tôi phải có mặt tại tòa nhà thứ nhất của chi bộ đảng vào tuần tới.
Tôi đành phải đến đó và các sĩ quan quân đội đã chờ tôi, họ đặt cho tôi một số câu hỏi. Tôi bối rối, đứng ngồi không yên nhưng tôi cũng lịch sự cúi đầu và cuộc thẩm vấn bắt đầu.
- Bốn nguyên tắc cơ bản của đảng là gì? một sĩ quan hỏi.
- Tôn sùng, tin tưởng, tuyệt đối, chấp thuận vô điều kiện - tôi đáp như một cái máy.
- Tại sao cô học tiếng Nhật?
- Tôi học tiếng Nhật để dân tộc ta chiến thắng Nhật Bản và nước Triều Tiên lại là một.
- Cô sẽ làm gì sau khi ra trường?
- Theo chỉ thị của đảng.
- Rất đúng. Bây giờ cô hãy đọc lại theo trí nhớ chương một cuốn “Hồi tưởng của Kim Dzhung Suk, người bạn đời của Kim Chính Nhật”.
Gần như tôi bắt đầu nói làu làu ngay lập tức. Rõ ràng là người sĩ quan kinh ngạc trước trí nhớ rất tốt của tôi.
- Cô được các điểm số ra sao?
- Xuất sắc, thưa đồng chí.
Anh ta ấn vào tay tôi một đoạn trong cuốn “Hồi ký Kim Nhật Thành” bằng tiếng Nhật và bảo tôi dịch ngay tại chỗ. Tôi dịch không sai một lỗi.
- Tuyệt, tuyệt lắm! - người sĩ quan hồ hởi, ngừng lại một chút rồi tiếp tục nói, giọng trang trọng. - Kim Hyun Hee, cô có sẵn sàng hy sinh vì đảng không? Vì cô phải biết rằng nhiệm vụ đảng giao chẳng những có thể đem đến vinh quang tột đỉnh, mà còn có thể đem lại cái chết cho cô?
Tôi ngạt thở, câu hỏi khiến tôi sững sờ nhưng tôi không để lộ ra ngoài.
- Tất nhiên - tôi cương quyết trả lời. - Tôi sẽ thực hiện tất cả những gì đảng giao phó, cho dù có phải hy sinh đời mình.
Người sĩ quan ghi chép gì đó vào cuốn sổ tay nằm trước mặt anh ta.
- Cô đã có ai tìm hiểu chưa?
- Chưa, thưa đồng chí.
- Tốt. Bây giờ cô đi khám bác sĩ đi. - Tôi được dẫn đến bệnh xá, một bác sĩ khám cho tôi rồi tôi phải chờ đợi. Buổi chiều, tôi lại bị gọi đến một lần nữa.
Người đứng đầu cuộc thẩm vấn - được gọi bằng cái tên “điệp viên đặc biệt Chang” - đứng lên và chìa tay cho tôi bắt.
- Chúc mừng nữ đồng chí Kim Hyun Hee. Đảng đã lựa chọn cô.
Tôi biết lẽ ra tôi phải mừng, nhưng sự hãi hùng và linh cảm xấu bao trùm tôi. Mọi thứ diễn ra quá nhanh gọn. Tất nhiên tôi nắm lấy bàn tay chìa về phía tôi. Tôi cố mỉm cười, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn nhưng thú thực tôi không hiểu những điều này là thế nào.
- Cô thu xếp đồ đạc ngay đi! - Chang nói tiếp. - Cô có thể ở lại với gia đình đêm nay, nhưng ngày mai phải khởi hành rồi.
Ông ta đưa tôi về lại trường, tại đó tôi chỉ có vài phút để từ giã các thày cô giáo. Dễ thấy là họ tự hào vì may mắn của tôi và họ chúc tôi thành công. Trong vòng một giờ đồng hồ, tôi đã có mặt ở nhà: điệp viên đặc biệt Chang đưa tôi về, ông ta thông báo cái tin điếng người với mẹ tôi.
Khi tôi thuật lại cho bà nghe về cuộc thẩm vấn, lập tức tôi thấy bà sững sờ, mặc dù bà rất cố gắng giữ kín. Bà lịch sự mời điệp viên đặc biệt Chang ở lại ăn bữa tối, nhưng ông ta khước từ lời mời. Chang nói sáng mai người ta sẽ đến đón tôi và ông ta bỏ đi.
Các em tôi rất lo lắng khi nghe cái tin này. Tuy nhiên, mẹ tôi vẫn lặng thinh chuẩn bị cho bữa tối. Cuối cùng, bà ngẩng lên nhìn tôi:
- Điều này có nghĩa là con ra đi vĩnh viễn ư?
Tôi do dự trước khi trả lời.
- Con không biết, mẹ ạ.
Bà lại cắm cúi thái rau, rồi thả vào chảo.
- Mẹ hy vọng là cha con sẽ chịu đựng được việc này - bà lên tiếng và không nói thêm một câu nào nữa.
Nhiều giờ trôi qua mà cha tôi vẫn chưa về. Tôi gói ghém đồ đạc. Giữa chừng, tôi lục ra một bức thêu mà mẹ tôi đã làm hồi bà còn học phổ thông trung học. Khi tôi chuyển đến ở ký túc xá, bà cho tôi tấm vải, đối với tôi nó có một giá trị tình cảm lớn lao.
Tôi quyết định tặng lại bức thêu cho Hyun Ok. Khi trao cho em, tôi cảm thấy dường như tôi cũng trao lại cho nó vị trí của tôi: giờ đây em đã là cô gái đầu trong gia đình, tôi ra đi vĩnh viễn.
- Giữ gìn cẩn thận em nhé! - tôi bảo nó -, và nếu chị về, chị sẽ lấy lại đấy.
Giờ phút đó, cả hai chúng tôi đều khóc như ri, chúng tôi ôm chầm lấy nhau và cứ thế cho đến khi mẹ tôi gọi hai đứa đi ăn tối.
Chỉ đến khoảng nửa đêm cha tôi mới về đến nhà và ông đã biết chuyện gì xảy ra. Cha tôi sửng sốt ghê gớm và nhiều lần, ông đặt đi đặt lại cho tôi nhiều câu hỏi giống nhau như thể ông không hiểu những câu trả lời của tôi. Sau đó, ông im lặng hồi lâu rồi bắt đầu nói bằng một giọng chán nản:
- Ngồi xuống đây con và nghe cha nói, Hyun Hee. Lúc nào cha cũng hy vọng con sẽ thành một người nội trợ đơn thuần, một bà mẹ tốt. Nhưng nếu con người ta có thể hiến dâng đời mình cho đất nước thì đó cũng là một vinh dự lớn. Luôn nhớ điều này con nhé: ngay trong cũi hổ con cũng có thể sống sót nếu con biết cách tập trung tư tưởng thường xuyên. Hãy làm mọi việc có thể, con ạ. Cha rất tự hào vì con.
Mẹ tôi òa khóc, còn tôi về phòng mình với mặc cảm tội lỗi. Tôi ngồi một hồi với các em, chúng tôi xem lại những bức ảnh gia đình và nhắc lại những cảm xúc chung. Tôi buồn vì phải ra đi nhưng tôi cũng biết được đảng chọn lựa là một vinh dự lớn biết bao. Tôi tự nhủ trẻ con, ai chẳng phải rời gia đình vào một lúc nào đó và tôi không thể mong muốn gì tốt hơn.
Ngày hôm sau từ sớm tôi đã tỉnh giấc. Chúng tôi không nói năng gì mấy trong bữa sáng và tôi thấy cặp mắt mẹ tôi thâm quầng vì bà khóc nhiều.
Điệp viên đặc biệt Chang đến vào hồi mười giờ. Ông ta chào cha tôi và tuyên bố:
- Anh đừng lo lắng cho Hyun Hee. Đảng sẽ chăm chút mọi thứ cho nó. Chúng tôi sẽ còn kiếm cả chồng cho cô ấy nữa. Hãy phó mặc cho chúng tôi.
- Cám ơn anh - cha tôi đáp, vẻ trịnh trọng. - Nó đã mang lại niềm tự hào cho gia đình chúng tôi, chúng tôi sẽ không lo ngại gì đâu. Tôi sẽ biết ơn đảng muôn đời.
Làm sao có thể quên được cái ngày tôi rời bỏ gia đình? Cha tôi rầu rĩ nhìn tôi. Mẹ và các em gái tôi khóc sướt mướt; chỉ các em trai tôi là vui vẻ dù tôi biết chúng phải cố gắng lắm.
- Tạm biệt! - mọi người lần lượt nói, như thể người nọ nhấn mạnh lời người kia. Đến nay tôi vẫn còn nghe tiếng nói của họ. Đến nay tôi vẫn còn nghe tiếng vọng ấy.

CHƯƠNG HAI

Cảm giác tự hào tràn ngập lòng tôi khi chiếc xe chở tôi phóng vùn vụt qua ngoại thành Bình Nhưỡng. Mỗi lần xe vượt qua các em bé, chúng lại chào chúng tôi theo kiểu đội viên tiền phong. Khi chúng tôi đến trạm kiểm soát ngoài rìa thành phố, người ta chỉ vẫy ra hiệu cho chúng tôi đi tiếp.
Chúng tôi đi về phía Phyong San, nhưng chiếc xe chợt giảm tốc độ và ngoặt sang một đường đất dẫn đến các giải núi. Sau đó là đến một trạm kiểm soát an ninh, tại đó người lính trực nghiêm trang chào kiểu quân sự. Ẩn sau trạm kiểm soát là một trang trại nông nghiệp: nhiều tòa nhà nằm trên một diện tích khá lớn, người ta nuôi chim cút ở đó. Rời nơi này, con đường ngày càng cách biệt hơn với bên ngoài.
- Cô đã đến những nơi thế này bao giờ chưa? - Chang lên tiếng hỏi. - Tối tối lũ cọp lại bò xuống từ núi.
Tôi không thích cái trò dọa dẫm của ông ta. Tôi liếc nhìn Chang, vẻ giận dữ.
Song ông ta không nhận ra và tiếp tục nói:
- Từ giờ trở đi không bao giờ cô được dùng tên thật của cô. Cô đã trở thành Kim Okhva, đừng quên điều này. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cô cũng không được nhắc đến tên thật của cô, nhất là khi cô gặp những người quen mới.
Sau đó chút ít, chiếc xe dừng lại cánh một tổ hợp nhà và một phụ nữ dáng người cao ráo bước đến trước chúng tôi, tôi áng chừng bà ta chừng năm mươi tuổi. Bà chào tôi và dẫn tôi về phòng. Căn phòng thông với buồng tắm, có bồn tắm đứng và vòi tắm hoa sen, người ta đã chuẩn bị sẵn quần áo mới dành cho tôi. Vùng vẫy trong bồn tắm một hồi, giữa chừng tôi trầm ngâm trước môi trường mới. Sau khi tắm táp xong, tôi đi nằm ngay nhưng suốt đêm tôi không tài nào chợp mắt nổi. Tôi lắng nghe tiếng gió gào rùng rợn giữa những lùm cây, tôi cảm thấy nơi này mới cô quạnh làm sao. Cứ thế, một thân một mình, tôi hoàn toàn khiếp đảm và ngay cả chuyện có lẽ ngoài kia có bầy hổ lang thang cũng không khiến tôi yên lòng. Tôi chỉ thiếp đi vào rạng sáng.
Buổi sáng, khi thức dậy, tôi được một bữa sáng ngon lành nhất kể từ thời tôi ở Cuba: trứng rán, bánh mì rán, sữa, bơ và khoai tây. Bánh mì nhẹ và ngon đặc biệt, loại ấy không thể mua được ở Bình Nhưỡng. Tôi hơi ngượng vì được ăn những thứ hảo hạng như thế.
Sau bữa sáng người ta giới thiệu cô bạn mới cùng phòng của tôi, họ bảo cô ta sẽ là đồng sự của tôi trong quá trình học hỏi. Tên cô là Kim Sukhi, một thanh nữ đẹp, có đôi mắt to và tươi tắn, ít hơn tôi một tuổi. Tròng vòng vài năm tiếp tới, đối với tôi Sukhi như người ruột thịt và không bao giờ tôi có một người bạn gái tốt hơn cô.
Điệp viên đặc biệt Chang bước vào phòng chúng tôi và ngồi xuống ghế.
- Chào hai cô - ông ta mỉm cười với chúng tôi. - Bây giờ, sau khi các cô đã đến đây, tôi có thể nêu ra một số điều lệ. Trong ngày không bao giờ các cô được ra khỏi học viện, buổi tối có thể đi dạo một chút. Trước khi đi, các cô phải báo cáo với bà đầu bếp và phải tránh mọi người lạ nếu giả sử họ đi qua đây: công nhân vận tải, lái xe, v.v… Nếu ra khỏi đây, các cô phải đeo kính râm và mặt nạ - tôi sẽ phát cho các cô -, cạnh đó, phải dùng ô để che mặt nếu gặp gỡ ai đó.
Buổi sáng, tám giờ phải ăn sáng xong. Trước khi đến trường, các cô hãy đọc đi đọc lại “Tuyển tập Kim Nhật Thành” và “Lịch sử cuộc đấu tranh cách mạng”. Rõ chưa?
Chúng tôi đảm bảo với ông ta là chúng tôi hiểu cả.
Sau đó, một người đàn ông đến thăm chúng tôi, người ta giới thiệu ông là phó thủ tướng Kung. Ông ta cao dong dỏng, mặt tròn trịa, cặp mắt li ti giận dữ. Chúng tôi trò chuyện tại thư viện và ông ta nói một cách thẳng thừng, không rào trước đón sau.
- Như các cô biết đấy, mục tiêu của đảng là thống nhất Triều Tiên ngay trong đời của thế hệ chúng ta. Chúng tôi nghĩ đến điều đó và tin rằng các cô sẽ trở thành những chiến sĩ xuất sắc. Lựa chọn các cô từ khá nhiều thí sinh, tôi tin rằng các cô sẽ không làm chúng tôi phải thất vọng.
Ông ta ngừng lại để chúng tôi cảm nhận sâu sắc tính chất đo dọa của câu nói, rồi tiếp tục:
- Vài ngày nữa các cô sẽ đến một trường, tại đó nhiều điệp viên đặc biệt đã được đào tạo.
- Chúng tôi sẽ không lùi bước - chúng tôi đáp ngay, cùng một lúc.
- Các cô có biết tại sao chúng tôi sử dụng phụ nữ trong chiến tranh gián điệp không? - ông ta hỏi. - Vì sắc đẹp của họ. Nếu cần thiết, chúng tôi sẽ chờ đợi các cô mang thân thể ra bán. Hơn nữa, nếu các cô phải cư trú hợp pháp ở nước ngoài trong thời gian dài, các cô sẽ làm vợ những người do chúng tôi lựa chọn. Tôi hy vọng các cô hiểu điều này chứ?
Chúng tôi không nói một câu, song cả hai đều hoảng hốt, tâm trí bị quấy đảo. Buổi tối, khi đi nằm, tôi hỏi:
- Sukhi, cậu có làm nổi điều đó không? Nghĩa là ngủ với một kẻ không quen biết ấy?
- Không - cô thở dài. - Còn cậu?
- Tớ cũng không.
Khi lên tiếng một lần nữa, giọng cô đầy vẻ cay đắng.
- Tớ nghĩ rằng có phải bọn mình được quyền quyết định đâu, phải không?
Ít nhất tôi cũng cảm thấy cay đắng như điều tôi nhận thấy trong giọng nói của cô.

CHƯƠNG BA
Ngay trong tuần lễ đó, chúng tôi được chở đến Ký túc xá Quân sự Kesong, ở đây đợt tập huấn của chúng tôi bắt đầu một cách nghiêm túc. Ngay những bó buộc ngặt nghèo mà tôi đã trải qua trong kỳ học quân sự của chỉ là điều nhỏ nhặt so với những gì tiếp diễn ở đây.
Kesong nằm ở một thung lũng không thể đến gần nổi tại chân núi Ipbul, cách thế giới văn minh hàng trăm dặm. Chỉ có vài làng nhỏ nằm rải rác trong vùng lân cận. Trại được dựng trên một diện tích khá lớn vì người ta đào tạo hàng ngàn học sinh ở đây. Các điệp viên được huấn luyện tại một thung lũng bí mật, tách rời khỏi toàn thể ký túc xá. Chúng tôi được phân chỗ ở trong một căn nhà nhỏ, trước kia từng có nhà bếp, buồng giặt và thư viện. Chúng tôi được nhận một thời gian biểu nghiêm ngặt mà không bao giờ chúng tôi được chệch đi:
07.30-08.30 Nghiên cứu triết học và những công lao của Kim Nhật Thành
08.30-13.00 Học buổi sáng
13.00-16.00 Ăn trưa và nghỉ ngơi
16.00-17.30 Học buổi chiều
17.30-19.00 Thể dục
19.00-20.00 Ăn tối
20.00-21.00 Võ thuật
21.00-22.00 Hành quân tối
22.00-23.00 Học
23.00 Đi ngủ
Chúng tôi bị bắt ép học tập đến kiệt sức, người ta đo xem cơ thể và tinh thần chúng tôi có sức chịu đựng đến mức nào. Chúng tôi được học ngắm bắn một cách thiện xạ với đủ các loại vũ khí. Chúng tôi ở ngoài trời nhiều ngày, ngủ trong hang cáo. Nhân sinh nhật của Kim Nhật Thành, chúng tôi hành quân một trăm dặm (160 cây số) trong vòng ba ngày; người ta gọi đây là Cuộc hành quân Trung thành. Chúng tôi học lái xe với vận tốc lớn, rửa phim trong phòng tối được làm vội vã. Và trong suốt khoảng thời gian đó chúng tôi đọc các trước tác của Kim Nhật Thành.
Chúng tôi được dạy các môn võ thuật. Người ta yêu cầu phụ nữ phải chiến thắng hai, ba đàn ông cùng một lúc. Chưa bao giờ trong đời tôi lại tự tin như lúc đó. Chúng tôi còn học cận chiến với dao găm. Chúng tôi luyện tập bằng những chiếc dao nhựa dài 25 phân.
Không chỉ tập ngắm bắn mà thôi, chúng tôi còn phải học cách tháo và lắp đủ mọi thứ vũ khí, phải biết cách sửa chữa súng ống nữa. Chúng tôi bắn vào những tấm bia nhỏ xíu cách khoảng chín mục mét và tôi trúng đích đến 90 phần trăm.
Hàng tuần, chúng tôi được xem phim gián điệp hai lần, các phim đó hoặc tuyên truyền sự suy đồi của xã hội phương Tây, hoặc về những chiến tích của các siêu điệp viên ngày xưa.
Chỉ Chủ nhật chúng tôi mới được tự do nhưng khi ấy chúng tôi mệt mỏi rã rời đến mức không buồn ra khỏi giường.
Cô giáo dạy chúng tôi tiếng Nhật là Heinhe, chúng tôi rất thân với cô. Tôi được bà đầu bếp cho biết câu chuyện bi thảm của cô Heinhe. Cô vốn người Tokyo, tại đây cô tốt nghiệp phổ thông rồi lấy chồng. Cô có một trai và một gái, sau đó ít lâu vợ chồng cô chia tay nhau. Một ngày kia, khi cô chơi đùa cùng các con ngoài bãi biển, các điệp viên Bắc Triều Tiên bắt cóc họ và đưa vào trại tù binh. Trong trại, cô ốm năng tưởng không qua khỏi. Tuy nhiên rồi cô khỏi bệnh, khi đó cô không chịu ăn uống gì và suốt ngày cô chỉ kể cô nhớ hai đứa con biết nhường nào. Nhưng các nhân viên Bắc Hàn rất kiên nhẫn. Họ khiến Heinhe tin rằng rồi một ngày cô có thể được tự do nếu cô chịu tuân lệnh họ. Rốt cục, không còn cách nào khác, cô đành yên phận trong cuộc sống mới.
Tuy thương cô Heinhen vì số phận cô phải chịu nhưng tôi vẫn cho rằng hy sinh một phụ nữ Nhật duy nhất cho sự nghiệp của Bắc Hàn là một việc hoàn toàn chính nghĩa, nhất là nếu ta nghĩ đến chuyện nước Nhật đã nô lệ hóa và sau đó, đã áp bức Triều Tiên trong suốt bốn chục năm trời. Giờ đây, nhìn lại, tôi cảm thấy hổ thẹn vì ý nghĩ đó. Sự việc đáng tiếc này cũng chứng tỏ sự dã man vô lương tâm của chính phủ Bắc Triều Tiên và các nhân viên của họ.
Vì quá bất hạnh nên Heinhe hay uống rượu đến say xỉn và khi đó, đôi lúc cô cư xử khá khó chịu. Dù vậy, cô là một giáo viên xuất sắc và càng ngày tôi càng quý mến cô. Cô thường kể chuyện về các con và về Tokyo, cô hy vọng chẳng bao lâu nữa cô có thể được về Nhật. Tôi không biết cô có được về nhà không.
Chúng tôi kết bạn với cô, tin tưởng nhau, lúc nào cô cũng mong được gặp gỡ chúng tôi. Nhiệm vụ của cô không nhỏ: phải biến tôi thành một phụ nữ Nhật để khi tôi được cử đi hoạt động, không ai có thể đoán được tôi là người Bắc Hàn.
Có một làng bản cách nơi chúng tôi ở chừng một, hai dặm và tất nhiên là chúng tôi bị cấm tới đó. Nhưng một tối Chủ nhật nọ, Heinhe cứ nài chúng tôi hãy cùng cô đến làng vì chưa bao giờ cô được gặp người dân Bắc Triều Tiên bình thường. Chúng tôi thấy một vài ngôi nhà xiêu vẹo, những đứa trẻ con bẩn thỉu chạy nhảy trên đường phố. Tôi thấy hổ thẹn và muốn đưa Heinhe đi. Nhưng cô vẫn ngắm nghía lũ trẻ, mắt tràn lệ. Chúng làm thức tỉnh bản năng người mẹ trong cô.
- Đây là thế giới đẹp đẽ của các cô ư, Okhva? - cô nói, vẻ giễu cợt không giấu giếm. - Tôi thương hại các cô.
Trong trại chúng tôi còn có một người bạn tốt khác: bà đầu bếp Vulchi, một phụ nữ khoảng bốn mươi lăm tuổi, cũng từng trải qua một cuộc đời bi thảm. Năm mười mấy tuổi, bà yêu một người thợ tiện nhưng mẹ bà bắt bà phải làm vợ một thợ mỏ. Hai người sống cực khổ tại một làng nhỏ heo hút tên là Samchuon và Vulchi phải chịu đựng rất nhiều vì chồng bà thường xuyên bội bạc bà.
Một ngày kia, ông chồng bị một chiếc xe goòng cán chết. Trong lễ tang, Vulchi gặp lại người tình thời thanh niên của bà, ông ta vẫn yêu bà nhưng đã có gia đình. Họ không thể làm gì được.
Về sau, Vulchi hướng dẫn khóa học nấu ăn trong một trường học rồi bà được phân việc trong trại. Bà thích vẻ cô quạnh của Kesong vì như bà thường nói một cách bông đùa, ở đây ít ai quấy nhiễu bà. Trong khu nhà, bà đóng vai trò “người mẹ”, chúng tôi phải báo cáo cho bà biết nếu muốn đi dạo hoặc muốn ra khỏi vùng. Nhưng Vulchi là một phụ nữ cao thượng và bà hay cho phép chúng tôi làm những gì chúng tôi muốn.
*
Trong những năm sau, đôi khi tôi được phép về thăm gia đình nhưng đây là những dịp buồn bã. Cha mẹ tôi không bao giờ sẵn lòng để tôi đi và lúc đó tôi lại xấu hổ vì họ quyến luyến tôi đến mức ấy, bởi lẽ mọi người dân Bắc Triều Tiên “có óc suy nghĩ thích hợp” đều phải làm như thế. Sự quyến luyến với thân nhân không thuộc vào số những bổn phận yêu nước và tôi thì đã hoàn toàn bị ngấm vai trò mới: vai trò một kẻ tập nghề gián điệp. Thời ấy chúng tôi được biết đứa em trai nhỏ nhất của tôi, Bam So, bị ung thư da và các bác sĩ đã chịu bó tay.
Mẹ tôi biểu lộ nỗi ưu phiền vì tôi phải xa nhà một cách thẳng thừng và to tiếng, nhưng tôi biết cha tôi cũng nhớ tôi, ít ra là như thế. Cha tôi rất gắn bó với tôi từ thuở tôi còn nhỏ, ông luôn gọi tôi là quận chúa. Trên nhiều phương diện, cha tôi là một người bí ẩn. Tôi biết ông tự hào về tôi và tôi cũng biết trên cương vị một cán bộ đảng, ông thuộc tầng lớp người được ưu đãi nhất ở Bắc Hàn, vậy mà vẫn có một cái gì đó nhắn nhủ tôi rằng trong đáy sâu tâm hồn ông, ông phẫn nộ vì chính phủ đã bắt tôi phải ra đi.
Đó là tình thương, đáng tiếc không có mặt trong cương lĩnh quốc gia của Kim Chính Nhật.

CHƯƠNG BỐN
Khi tham dự kỳ thi được gọi là tốt nghiệp để đánh giá xem tôi học hỏi được những gì, tôi đã sống trong trại được ba năm. Đây là thời gian mệt mỏi nhất và hại thần kinh hơn cả trong suốt kỳ tập huấn của tôi, vì thí sinh nào bị đánh hỏng hai lần trong kỳ thi sẽ bị khai trừ khỏi đảng và phải sống nhục nhã trong suốt phần đời còn lại của họ.
Kỳ thi kéo dài tròn một tuần và gồm có ba phần: thi thể lực, thi viết và thi trắc nghiệm thực hành. Mỗi phần đầu được đánh giá một cách kỹ lưỡng trên thang điểm một trăm. Những ai đạt được ít nhất chín mươi điểm trong mỗi phần của kỳ thi sẽ được cho đậu.
Cũng như các thí sinh khác, từ nhiều tuần trước kỳ thi tôi đã sống trong nỗi hồi hộp thường xuyên. Giờ đây những gì chúng tôi vật lộn trong vòng ba năm sẽ được đem ra đánh giá. Người ta bảo thường thường chỉ một phần ba số thí sinh vượt qua nổi kỳ thi. Như vậy, đảng chỉ giữ những phần tử ưu tú nhất trong đội ngũ cán bộ của mình.
Sáng hôm đầu đi thi, trời lạnh lẽo và xám xịt. Lúc đó là tháng Chín, mặt đất đã có những hạt băng đọng cho thấy một mùa đông sắp đến. Tôi dạy từ sáu giờ đúng như yêu cầu, trong bụng chỉ có một viên mì bọc bột. Tôi vận bộ đồ thể thao và cố gắng ăn sáng, nhưng tay tôi run rẩy đến mức tôi không và nổi cơm vào miệng. Hơn thế nữa, sự căng thẳng làm cổ tôi nghẹt thở khiến hầu như tôi không thể nuốt trôi thức ăn.
Sukhi phải thi cùng tôi và cô cũng căng thẳng chả kém gì tôi. Trong bữa sáng, chúng tôi chẳng nói chuyện gì mấy, cả hai đứa đều cố gắng xua đi nỗi lo âu bằng cách riêng của mình. Tôi tìm cách nhớ lại một vài dịp khi tôi tham gia buổi thiền định siêu việt: tôi thử lặp đi lặp lại câu thần chú “”Úm ma ni bát ni hồng”. Có điều sự chú ý của tôi luôn luôn bị lạc đề, tôi mất bình tĩnh, run rẩy và không cảm thấy trong người khá hơn chút nào cả.
Sáu rưỡi sáng, một hồi còi vang lên từ phía ngoài báo hiệu kỳ thi bắt đầu, chúng tôi xếp hàng ở ngoài sân. Chúng tôi có khoảng mười lăm người, một phần ba là nữ. Ở một bên, có hai huấn luyện viên một nam một nữ, ăn mặc quân phục chiến đấu và đội mũ lính màu xanh. Khi tất cả chúng tôi đã tập họp đầy đủ, người sĩ quan huấn luyện - một thanh niên tên là Ri Hong, vóc người cao, vẻ can trường - vỗ tay ra hiệu cho chúng tôi chú ý:
- Các đồng chí! - anh thét lên và có thể thấy hơi thở của anh ta trong bầu không khí lạnh lẽo. - Chúng ta đã sẵn sàng để bắt đầu phần một của kỳ thi. Khởi đầu bằng cuộc chạy mười lăm cây số quanh trại, một phần thông qua các đường mòn trong núi. Tuyến đường được đánh dấu bằng những lá cờ vàng và cùng với nữ đồng chí My Ong - anh ta chỉ vào nữ huấn luyện viên -, tôi sẽ chạy cùng để theo dõi các anh chị. Tại đích ở đầu kia của trại, các sĩ quan huấn luyện khác đang đợi các anh chị, họ sẽ ghi lại kết quả của các anh chị. Càng mất ít thời gian bao nhiêu, các anh chị càng được nhiều điểm bấy nhiêu. Ai không chạy được hết cự ly, người đó sẽ không được điểm và không được tham dự kỳ thi. Rõ chưa?
- Thưa, rõ! - chúng tôi đồng thanh gào lên.
- Chuẩn bị! - anh ta thét lên và quay về phía con đường đã được đánh dấu. Khi tất cả chúng tôi đã ở tư thế chuẩn bị, anh ta vụt chạy và chúng tôi theo anh ta.
Anh ta chạy quá nhanh đối với tôi. Tôi cũng không cố gắng theo kịp anh ta, tôi tập trung để chạy với nhịp độ đều đặn thì hơn. Như điều thường xảy ra tại các cuộc thi, vài kẻ khởi đầu với một tốc độ khiến ta có thể biết rằng họ không thể duy trì được lâu cái nhịp điệu này. Tôi cố gắng không để tâm đến họ và chỉ tập trung đến kết quả của bản thân. Dù sao đi nữa cũng không được bỏ cuộc và tôi quyết chí thà ngất đi chứ không dừng lại.
Cây số đầu tiên là cả một khổ hình. Các suy nghĩ của tôi lạc đi đâu hết, chúng lôi cuốn tôi hãy bỏ thi đi, ngồi xuống mà nghỉ ngơi đã! Tôi không muốn nghĩ đến điều này, tốt hơn cả là phải để tâm đến một cái gì khác: cuộc trò chuyện tối hôm trước với Sukhi hay một bài đọc nào đó của tôi. Như thế, tôi mới có thể vượt qua được cây số đầu tiên rồi hòa vào cái nhịp chạy thong thả, nhẹ nhàng.
Cố nhiên tuyến đường dẫn vào núi non và càng làm chúng tôi khó nhọc hơn. Dưới chúng tôi là một thung lũng tuyệt vời vào thủa chớm thu với biết bao sắc màu. Những quả núi hiền hòa và yên tĩnh, xa xa chim chóc lên tiếng hót. Dần dần tôi cứ nóng lên, chẳng mấy chốc mồ hôi tôi đã tuôn ra như tắm.
Cuộc thi càng tiếp diễn thì những người dự thi càng cách biệt. Một số người bị tụt hậu, số khác bỏ xa chúng tôi. Hầu như suốt khoảng thời gian thi, tôi chạy cùng với Sukhi, thỉnh thoảng chúng tôi còn hổn hển những lời lẽ khích lệ nhau.
Sau hai phần ba quãng đường, con đường bắt đầu dốc thoai thoải và như thế, chúng tôi dễ giữ nhịp chạy hơn nhiều. Có điều sau khi qua mười cây số, chân tôi bắt đầu đau. Nhưng không phải điều này khiến tôi phải bận tâm thực sự. Quan trọng nhất là tôi phải hít thở đều đặn, cứ bốn bước một lần. Tôi biết nếu bị mất nhịp, tôi sẽ không thể chạy được đến cùng.
Đến gần cuối cuộc thi, chúng tôi phát hiện ra một số kẻ bị thương. Ở những điểm khác nhau trên đường, có một người đàn ông rồi một phụ nữ nằm và khóc nức nở không gì an ủi được. Tôi thấy thương họ nhưng không thể làm gì để giúp họ. Tôi thầm cầu nguyện để ít nhất họ cũng thi đậu vào kỳ sau.
Trong hai cây số cuối, phổi tôi như cháy bỏng và tôi phải lấy không khí ba, rồi hai bước một. Bên cạnh tôi, Sukhi vấp ngã liên tục, vẻ quyết tâm ảm đạm hiện rõ trên gương mặt cô, cô nhìn trừng trừng lên phía trước xem cái đích ở đâu. Cô thở đứt quãng, khó nhọc và tôi gào lên với cô:
- Cố lên Sukhi! Bọn mình sắp đến đích rồi! Chỉ còn một tí thôi!
Cô liếc mắt nhìn trời nhưng tôi biết câu nói khích lệ của tôi đã giúp cô.
Không ai trong số chúng tôi biết chính xác cái đích ở đâu và điều này càng làm tăng sự chật vật của cuộc thi: chúng tôi không biết đích. Nhưng cuối cùng, vào lúc tôi cảm thấy như không thể chịu nổi, tôi nhìn thấy một nhóm các thí sinh đã đến đích và đang nói chuyện với sĩ quan huấn luyện Ri Hong. Các sĩ quan khác cũng đứng ở đó, tay cầm đồng hồ bấm giây. Tôi bước qua đích và lập tức ngã vật ra cạnh Sukhi.
- Hai nữ đồng chí Okhva và Sukhi chạy mất hai giờ bốn phút hai mươi bảy giây! - một sĩ quan thét lên và nhận xét. - Kết quả tuyệt vời, hai nữ đồng chí ạ, các cô được chín mươi ba điểm rưỡi!
- Trời đất! - Sukhi thở gấp. - Okhva ạ, nếu không có cậu bên cạnh, hẳn không bao giờ mình chạy được đến cùng. Mình đã dở sống dở chết rồi.
- Mình cũng thế - tôi vẫn thở gấp, đứt quãng. Nằm ngửa, tôi ngắm nhìn bầu trời giờ đã chuyển sang màu xanh sẫm. Đầu tôi giần giật, choáng váng. Tôi tưởng tôi sẽ lịm đi ngay tức khắc. Khi đó Ri Hong bước đến và vực tôi dậy.
- Cố đi lại một chút cô ạ - anh ta nói. - Những lúc như thế này nằm là tệ nhất. Có hại cho tim của cô. Cứ đi lại là cô sẽ thấy đỡ ngay thôi.
Tôi gật đầu và đứng dậy đi đi lại lại. Sáu người - năm nam một nữ - về đích trước chúng tôi; Sukhi và tôi là người thứ bảy và thứ tám. Trong nửa giờ đồng hồ tiếp đó, những kẻ khác cũng lảo đảo về đến đích, chỉ có ba người bị loại hẳn. Mới chưa đến chín giờ sáng và chúng tôi còn vô số bài tập.
Ri Hong hạ lệnh cho chúng tôi đi tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ và đến mười giờ phải có mặt tại trung tâm thể thao, kỳ thi sẽ tiếp tục ở đó. Tôi ngạc nhiên nhìn Ri Hong. Anh cũng chạy hết mười lăm cây số mà chẳng hề hổn hển.
(*) Câu châm ngôn (thần chú) Phạn ngữ quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng, có nghĩa là “ngọc quý trong hoa sen”, cầu Quán Thế Âm Bồ Tát. (N.D.)
Tôi cùng Sukhi loạng choạng về căn nhà của chúng tôi và rũ bỏ quần áo. Tôi để Sukhi đi tắm, tôi ngồi vào bồn nước nóng bỏng và phần thì tươi tỉnh, phần thì mệt rũ vì nó. Tôi thay bộ quần áo thể thao sạch sẽ và uống một cốc nước cam to, rồi lững thững đi đến trung tâm thể thao.
Kim Hyun Hee
Đó là một tòa nhà dài và thấp với hai phòng thể thao, một phòng tập tạ, một bể bơi và một phòng to hình vuông, chứa toàn gương, tại đây chúng tôi từng luyện tập võ thuật. Các sĩ quan ở trong phòng tập tạ và, vì còn vài phút nữa mới đến mười giờ, tôi thư giãn đôi chút cùng mọi người, tất cả đều chờ kỳ thi tiếp tục.
- Phải lắm! - đúng mười giờ, Ri Hong nói. - Ta tiếp tục nhé. Khởi đầu trong phòng tập tạ, ở đây mọi người nâng tạ theo khả năng trong tư thế nằm. Sau đó, mọi người lên xà theo khả năng. Nữ đồng chí Okhva, cô bắt đầu.
Tôi lo lắng đứng lên và tiến đến chiếc ghế dài, ở đó đã có hai người đàn ông vạm vỡ chờ đợi để giúp tôi. Thường thường tôi hay tập luyện với quả tạ 50 cân.
- Tôi thử bảy nhăm cân - tôi ngồi xuống chiếc ghế. Hai người đàn ông đặt những vòng tạ lên trục rồi đặt trục lên cái giá. Tôi nằm dưới giá đỡ. Bảy mươi lăm cân là kết quả rất tốt đối với một phụ nữ có thể chất như tôi. Chưa bao giờ tôi nâng từng ấy - kết quả khá nhất của tôi cho đến nay là 70 cân -, và cuộc thi chạy đã khiến tôi mệt mỏi. Nhưng tôi biết nếu không thành công, tôi còn có một cơ hội nữa, vậy tại sao lại không thử nhỉ?
Tôi hít liền nhiều hơi nhanh và sâu để có thật nhiều dưỡng khí trong máu. Cầm trục tạ, tôi lấy hết sức bình sinh để nhấc nó lên.
Hét thật to, tôi nhấc tạ và khối nặng được nâng lên chầm chậm. Trục tạ hơi bị lạng đi, tôi cố gắng đưa nó về vị trí thăng bằng. Tôi lại tập trung hết sức lực, thở hắt ra và đẩy trục tạ lên. Nó dừng lại ở giữa đường. Tôi thét lên, mặt méo đi và càng đẩy mạnh hơn nữa. Thật lạ lùng, nhưng tôi cũng duỗi thẳng được cánh tay và kết thúc bài tập. Hai người đàn ông đỡ trục tạ từ tay tôi và đặt lại lên giá đỡ.
Những người ngồi ngoài hò reo cổ vũ tôi. Hơi ngơ ngẩn, tôi đứng dậy khỏi chiếc ghế băng và về chỗ ngồi.
- Tuyệt vời! - Ri Hong nói, giọng sang sảng. - Nữ đồng chí Okhva được chín mươi sáu điểm! Cô có muốn thử thêm một lần nữa không?
- Không, hoàn toàn không! - tôi đáp.
- Thôi được. Người tiếp tục!
Khi đến lượt, Sukhi nâng được 65 cân. Cô được 92 điểm vì kết quả tốt đó. Một người đàn ông cơ bắp cuồn cuộn tên là Kim Bong đạt được kết quả xuất sắc nhất: trong cơn hồn xiêu phách lạc, anh ta nghiến răng nghiến lợi nâng 200 cân và được thưởng 10 điểm, nghĩa là anh được cả thảy 110 điểm.
Bây giờ đến môn lên xà. Trong ba năm trở lại đây, ngày nào tôi cũng luyện môn này, thường tôi làm được mười lăm lần. Ngày hôm đó tôi được mười bảy lần và được 94 điểm. Sukhi làm được mười sáu lần, Kim Bong lại trở thành người chiến thắng với bốn mươi sáu lần lên xà.
- Chúng ta sang phòng khác! - My Ong điều khiển sau khi chúng tôi đã kết thúc ở phòng tập tạ.
Bây giờ người ta muốn biết vận tốc của chúng tôi. Trong căn phòng dài chừng 50 mét, chúng tôi phải chạy từ tường này sang tường kia và quay lại. Chúng tôi có thể thử nghiệm ba lần.
Tôi không sợ cú thử này. So với chiều cao của mình, tôi khá nhanh và sau ba năm dốc hết sức lực để tập luyện, trên cơ thể tôi không có một chút trọng lượng thừa nào. Tôi chạy mất 19,4 giây. Đây là một kết quả không tồi vì khi quay lại, chúng tôi phải chạm vào thành tường và lúc đó bị chậm đi. Sukhi còn nhanh hơn tôi, cô chỉ mất 19,1 giây. Cô được 95 điểm vì kết quả đó, tôi được 94,8.
Lúc đó đã là trưa và nhóm người mệt lử được phép đi ăn trưa. Hôm ấy chúng tôi được suất ăn đúp nhưng khi ăn xong tôi vẫn cảm thấy đói. Chương trình tiếp tới bắt đầu vào hồi 13.00 giờ, thành thử tôi và Sukhi còn có hai mươi phút nằm khểnh trên giường để hồi sức chút đỉnh.
- Thật đáng kinh ngạc là người ta hành hạ bọn mình biết chừng nào! - Sukhi xoa bóp bắp chân cô.
- Mà nào đã hết! - tôi đáp. - Nhưng mình không phàn nàn; bọn mình tiến bộ rất nhiều từ hồi mười tám tuổi, khi bắt đầu tập luyện. Lúc đó một cây số mình cũng chạy cũng khó khăn lắm.
- Mình thì đi cũng chẳng được - Sukhi cười phá lên.
13.00 giờ, chúng tôi lại có mặt tại trung tâm thể thao, lần này ở dojo, phòng tập võ thuật. Chúng tôi phải mặc trang phục màu trắng như kiểu pi-gia-ma, gọi là ghi.
Chúng tôi chỉ học các môn võ thuật có nguồn gốc Triều Tiên dù chúng thuộc nhiều trường phái: tekwando, tangsudo và hapkido. Từ những môn hơi giống nhau, nhưng vẫn mang tính đặc thù này, người ta tổng hợp thành một môn võ thuật độc đáo dành cho các điệp viên. Màu đai nối tiếp nhau như sau: người mới nhập môn đeo đai trắng, sau đó đến đai vàng, xanh da trời, xanh lá cây, đỏ, nâu, cuối cùng là màu đen dành cho người đã lên đến bậc mười. Có rất ít môn sinh đạt được huyền đai trong bất kỳ môn võ thuật nào, nhưng thày dạy chúng tôi, Kai Chon được ngũ đẳng huyền đai ở cả ba môn võ thuật Cao Ly. Trong quá trình tập luyện ba năm, tất cả chúng tôi đều đạt được cấp bậc đầu, nhưng sau đó muốn được bậc tiếp theo thì phải mất nhiều năm.
Kai có hai phụ tá, cả hai đều là tam đẳng huyền đai, tên là Yang Lui và Kang Khil. Kai điều khiển quá trình khởi động, sau đó anh ngồi ở cuối phòng với cầm cuốn sổ ghi chép trong tay, cạnh anh là Kang Khil. Cách chúng tôi không xa là Yang Lui, rồi Ri Hong và My Ong, hai người này đều được nhị đẳng huyền đai.
- Chúng ta bắt đầu bằng song đấu tay không - Ri Hong tuyên bố. - Mỗi đồng chí thử sức năm phút với Yang Lui. Vì chúng tôi phải chấm điểm một cách thật chính xác, các đồng chí không được dùng trang phục bảo vệ, cuộc đấu sẽ thuộc loại full contact. Nam giới có thể dùng bao che hạ bộ, nhưng ngoài ra thì không. Có thể dùng mọi ngón võ: được đá vào hạ bộ và lên đầu, được dùng mọi ngón quật và khóa, nhưng chúng tôi cũng đánh giá lòng tự chủ không kém gì sự khéo léo. Những đòn chừng mực, đưa ra một cách thuyết phục sẽ được điểm cao nhất. Ai cố tình làm gãy xương kẻ khác sẽ bị loại ngay lập tức. Các đồng chí rõ chưa? Tốt lắm. Ta bắt đầu.
Tôi mừng vì tôi không phải là người đầu tiên. Chưa bao giờ tôi đấu với Yang Lui, vì thế ít nhất tôi còn có dịp xem phong cách của anh ta. Đó là một người cao, gân guốc, cước pháp và thủ pháp nhanh như chớp, có thế phóng ra những cú đá tuyệt vời nhất. Một lần tôi từng được chứng kiến cảnh anh ta bay lên không và phóng một cú đá ngược tuyệt hảo, gót chân điểm trúng giữa một mảnh xi-măng treo lửng lơ ở độ cao hai thước rưỡi và xẻ đôi nó.
Một vài người thường có sở trường phản công nhưng Yang Lui là một võ sĩ thiên về tấn công, anh chủ động rất nhiều. Anh ra những đòn ảo tuyệt diệu, phóng những đòn tay lanh lẹ và khéo léo vào thí sinh đầu tiên khiến tôi thiếu tin tưởng. Tôi có thể làm gì với con người này? Sau năm phút, người thí sinh rời sàn tập, anh trúng nhiều đòn, người nhuốm máu nhưng vẫn được 90 điểm vì đã giữ được thể diện trước sư phụ.
Trước tôi còn ba thí sinh. Tôi đứng dậy, tiến đến giữa sàn, cúi đầu thi lễ Yang Lui rồi cả hai chúng tôi cúi đầu trước các thày. Kai ra hiệu cho chúng tôi bắt đầu.
Yang Lui lập tức tấn công ngay. Ở đây, phụ nữ không được ưu tiên. Phụ nữ cũng hay bị vỡ mũi, gãy xương sườn như nam giới. Những cú đá của Yang Lui dồn dập giáng vào tôi khiến tôi khó tránh nổi. Còn nói gì đến chuyện phản công! Tôi phải mừng vì vẫn còn trụ vững.
Cuối cùng, Yang Lui cũng hơi lùi để chờ tôi tấn công. Vì tôi là kẻ có ngôi vị thấp hơn, là môn sinh, tôi phải ra đòn nhanh chóng, nếu không sẽ bị phạt vì tội chậm trễ. Tôi phóng vài cú đá nhanh vào mặt anh ta. Yang Lui giơ hai tay để đỡ, cùng lúc ấy tôi dùng chân trái khóa cổ chân anh ta và giật anh ngã. Anh ta đổ xuống sàn. Yang Lui bật dậy, đấm mạnh vào sườn tôi rồi ra đòn trúng vai tôi. Tôi phát hoảng, giận dữ và tuyệt vọng, cố nén nỗi đau, tôi bám lấy tay anh ta, kéo anh ta lại gần và giáng một cước nửa cung tròn vào vùng dạ dày anh ta. Yang Lui lảo đảo trong một khoảng khắc, tôi chụp lấy vai anh, bước ra sau lưng và quật anh ta xuống sàn. Tôi đã tính đến cú đá của anh ta. Tôi bắt được chân anh ta giữa chừng và tung ra một cước trúng hạ bộ anh ta.
- Dừng! - Kai kêu lên. - Okhva thắng hiệp này.
Yang Lui đã đứng lên. Bây giờ anh ta đã giận tôi và anh còn tấn công dữ tợn hơn, nhanh hơn. Anh ra một loạt đòn vào thành bụng tôi, tôi không đỡ nổi và gần như bị gục. Cuối cùng, tôi cũng hất được anh ta ngã, cùi tay tôi quật trúng xương ức anh ta, rồi tôi bám lấy chân anh ta và lại hạ anh ta xuống sàn. Yang Lui đáp lại một cách điêu luyện: trong nháy mát, anh phóng chân kia tạo thành một gọng kìm kẹp chặt hai chân tôi và kéo về phía anh. Hai chân anh siết chặt chân tôi, anh nhỏm dậy và chuẩn bị phóng một quyền vào mặt tôi. Tôi bắt lấy khuỷu tay anh, vặn và khóa tay anh khiến anh phải thả lỏng gọng kìm.
- Dừng! - Ri Hong kêu lên.
Hai chúng tôi đứng lên, cúi chào nhau rồi cúi đầu trước Kai. Tiếp đến một chút nghỉ ngơi, các thày tính toán kết quả. Tôi về chỗ ngồi và chờ đợi.
- Kết quả của nữ đồng chí Okhva... chín mươi chín điểm!
Vài người vỗ tay. Tôi kinh ngạc. Tôi giữ được thể diện trước một võ sĩ xuất sắc, mặc dù tôi biết tôi không phải là đối thủ xứng đáng của anh trong một cuộc đấu thực sự. Nhưng lần này tôi vẫn thắng được Yang Lui và tôi xấu hổ nhìn xuống đất, không dám ngẩng lên nhìn anh.
Phong độ sút kém trong trận song đấu với tôi khiến Yang Lui nổi cáu, thành thử anh ra tay không thương tiếc với các đối thủ sau tôi. Sau những cú khóa đau đớn, các thí sinh gần như bay trên không để rồi làm mồi trước ngọn cước của anh. Khi đã đấu xong với tất cả mọi người, Yang Lui ngồi xuống và Kang Khil đứng dậy.
- Bài thi tiếp tới - Kai nói - mọi thí sinh phải thi đấu với đồng chí Kang Khil, đồng chí sẽ dùng một con dao nhựa dài hai mươi nhăm phân. Các đồng chí có thể thử tước vũ khí ba lần, sau đó có thể sử dụng dao hoặc tìm cách thắng đồng chí ấy bằng cách khác. Có ai hỏi gì không? Không? Ta bắt đầu!
Tôi là người thứ ba phải đấu với Kang Khil. Sau khi cúi đầu thi lễ, chúng tôi thận trọng tránh nhau. Lưỡi con dao nhựa tụt vào chuôi dao như chiếc lò xo, đánh dấu độ sâu mà lẽ ra nó có thể ngập vào cơ thể đối thủ. Kang Khil bắt đầu một đòn ảo, cặp mắt đen của anh nhìn chòng chọc vào tôi. Trong võ thuật ánh mắt có thể là một vũ khí hiệu quả, vì thế tôi tìm cách tập trung vào bàn tay cầm dao của anh ta. Đột nhiên, nhanh như một con mèo, anh ta nhảy xổ lên phía trước và chĩa dao vào bụng tôi. Tôi bị bất ngờ đến nỗi không kịp đưa tay đỡ. Kang Khil đâm dao vào dạ dày tôi và lưỡi dao tụt đến gốc vào chuôi dao.
- Kang Khil thắng hiệp đầu! - Kai kêu lên. - Vào cuộc, Okhva! Chú ý vào!
Tôi lại khổ sở đứng tấn, chúng tôi lại bắt đầu tránh nhau. Bây giờ tôi chú ý đôi mắt anh ta, hy vọng rồi cặp mắt sẽ để lộ dụng ý của anh. Kang Khil ném con dao từ tay này sang tay kia, anh ta mỉm cười vẻ thỏa mãn và đùa giỡn với tôi. Bị dẫn dắt bởi một sáng kiến đột ngột, tôi quay lại và phóng một cước hậu rất mạnh vào mặt anh. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi cú đá của tôi trúng đích. Kang Khil kêu lên và nhảy lùi về sau, anh đưa một tay lên ôm mặt. Vận hết sức lực, tôi tung hai quyền vào ức anh ta và nếu tỉnh táo hơn, tôi đã có thể hạ anh ta nhanh chóng. Nhưng thay vì lên gối trúng hạ bộ hay đấm dứ một cú vào cổ họng anh ta, khi đó thế nào các trọng tài cũng cho ngừng cuộc đấu, tôi lại cầm nã cánh tay cầm dao và dùng tay kia siết chặt khuỷu tay anh ta. Bị siết chặt, anh ta đành phải bỏ con dao và tôi vồ ngay lấy nó. Có điều trong lúc đó Kang Khil đã hoàn hồn và đúng lúc tôi cúi xuống, anh ta đá trúng ngực tôi từ chính diện. Ttúng phát cước, tôi bay phải đến năm mét và ngã dập mông xuống đất. Lập tức anh ta đã xuất hiện ở đó, nhưng ít nhất tôi cũng còn giữ được con dao. Khó khăn lắm tôi mới gượng dậy được và dùng dao đâm anh ta. Kang Khil khựng lại giữa chừng, luồn tránh cú đâm và xuống tấn. Chúng tôi lại dứ nhau, nhưng bây giờ lợi thế đã thuộc về tôi.
Anh ta tiến đến gần tôi khiến tôi phải lùi, nhìn chân trước tôi biết anh chuẩn bị phóng cước. Kang Khil là một đối thủ tuyệt vời, anh sừng sững không gì lay chuyển nổi, tôi không mấy tin tưởng là tôi có thể làm anh ta mất cảnh giác. Thế là tôi dùng một mẹo khác. Tôi phóng con dao về phía anh, khiến anh phải ngửa đầu lên nhìn trong giây lát. Vào khoảng khắc không đáng kể ấy, tôi tung cước trúng hạ bộ và đấm trúng vai anh ta. Kang Khil ngã bịch, dập mông xuống sàn, mặt anh lộ vẻ kinh ngạc.
- Dừng! - Kai kêu lên. - Okhva thắng!
Tôi đỡ Kang Khil dậy, anh còn nửa mê nửa tỉnh. Sau khi cúi đầu chào, tôi về chỗ chờ kết quả.
- Chín mươi tư điểm! - Ri Hong gào lên.
Nhưng khi đó đã chập tối và ngày hôm ấy chúng tôi không phải làm thêm gì nữa. Tôi cùng Sukhi về nhà, 19.00 giờ chúng tôi đã lăn ra ngủ. Bản thân tôi cũng thấy ngạc nhiên về mình. Có lẽ tôi vẫn hợp với nghề điệp viên mật?
*
Ngày hôm sau kém xa hôm đầu về mặt căng thẳng vì chủ yếu chúng tôi chỉ thi bắn súng.
Thoạt đầu, chúng tôi ngắm bắn một tấm bia cách xa một trăm mét bằng súng loại nòng to. Chúng tôi bắn năm mươi phát đạn, tôi trúng bốn mươi bảy lần. Cũng như rất nhiều thí sinh khác, Sukhi trúng cả 50 lần và mọi người đều đạt được kết quả tốt.
Sau đó chúng tôi dùng súng lục, nhưng lúc ấy tấm bia chỉ cách hai mươi lăm mét. Tôi bắn trúng bốn mươi sáu lần và Sukhi lại vượt tôi: cô trúng đích cả 50 lần.
- Mình nghĩ rằng cậu đã hoàn hồn rồi đấy - tôi bảo cô trong giờ nghỉ trưa.
- Mình lấy làm mừng vì rốt cục cũng có một môn mà mình thạo - cô đáp. - Hôm qua, lúc bị Yang Lui hạ đo ván, mình thấy khó ở quá. Và chân mình còn đau nhức nữa chứ!
- Tớ cũng thế - tôi nhếch mép cười. Sáng nay khó khăn lắm tôi mới dậy được, toàn thân tôi đau như dần. Đấy là còn chưa nói đến những vết thương bầm dập khi tập các môn võ thuật.
Phần còn lại của ngày, chúng tôi còn thi bắn cung, ném dao và lựu đạn. Nói chung tôi đạt được kết quả khả quan, trừ môn bắn cung tôi chỉ được 82 điểm. Nhưng điểm số thể lực tổng quát của tôi vượt chỉ số chín mươi khá nhiều, thành thử tôi không phải lo ngại gì.
Chúng tôi còn phải thi lái xe nữa. Chúng tôi phải lái một chiếc xe hơi Mercedes với vận tốc lớn suốt dọc một sân có chướng ngại vật: cột xà, những đoạn đường đóng băng và những khúc ngoặt như trâm cài đầu đàn bà. Mỗi người được đi hai lần, thời gian được đo lường cẩn thận. Đối với tôi, lái xe luôn đem lại cảm giác hồi hộp vì xe cộ là thứ vô cùng hiếm hoi trong đời sống thường nhật Bắc Triều Tiên. Ở phương Tây mọi người đều có thể lái xe hàng ngày nhưng đối với chúng tôi, xe cộ là điều mới mẻ. Tuy vậy, trong ba năm thời kỳ tập huấn tôi cũng đã tập lái khá thạo và tôi được xếp thứ nhì trong số các thí sinh với 96 điểm.
Sau khi chấm dứt hoàn toàn phần thi thể lực, tôi được 94,63 điểm. Chỉ có hai người có kết quả vượt tôi, nhưng chỉ có mười một trên tổng số mười lăm thí sinh được tiếp tục dự kỳ thi viết.
Trên nhiều phương diện, thi viết còn khó hơn thi thể lực nhiều. Trong hai ngày liền, chúng tôi phải thi hai lần, mỗi lần bốn tiếng liền, về đủ các môn học.
Ngày đầu, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu về triết học và cuộc đời Kim Nhật Thành. Chúng tôi được nhận hai trăm câu hỏi hoàn toàn đơn giản, phải trả lời đúng hoặc sai, rồi phải viết ba bài luận văn khá dài về chủ đề của chủ nghĩa xã hội Bắc Hàn. Bài luận này tạo điều kiện thuận lợi nhất để người ta có thể đánh giá được xem chúng tôi đã tiếp thu nền tuyên truyền chính thức đến mức nào, bởi lẽ có những câu hỏi đại loại như sau: "Trong một bài luận dưới mười trang, anh (chị) hãy giải thích tại sao chế độ Bắc Triều Tiên lại ưu việt hơn các chính thể tư sản."
Ngày thứ hai chúng tôi thi nhiều môn: toán, ngoại ngữ v.v... Chúng tôi còn nhận nhiều câu hỏi về các loại vũ khí khác nhau, ví dụ: "Loại vũ khí cầm tay được ưa chuộng nhất của KGB là gì, và có thể bắn mấy phát với nó?" hoặc "Hãy liệt kê toàn bộ các loại máy bay của quân đội Bắc Triều Tiên cùng những đặc điểm của chúng."
Tôi mất bình tĩnh từ đầu đến cuối và không trả lời được khá nhiều câu. Hơn nữa tôi còn không biết 90 điểm tối thiểu được hình thành như thế nào, vì chúng tôi không thể đoán được các thày đánh giá từng phần của kỳ thi viết theo cách nào. Cuối ngày thi viết thứ hai, tức là sau kỳ thi viết thứ tư, tôi hoàn toàn kiệt sức, cả về thể xác lẫn tinh thần. Trong tuần đi thi, chúng tôi được miễn mọi nhiệm vụ khác và tôi lăn ra ngủ một mạch hàng chục giờ. Sukhi cũng mệt mỏi bơ phờ như thế.
Vì chỉ còn lại mười một thí sinh, kết quả các môn thi được chấm rất nhanh chóng. Ba người bị trượt, và trong số tám người thi đău, tôi xếp thứ nhì với điểm số trung bình 93. Sukhi được kết quả 92,18. Chúng tôi mừng rỡ. Chúng tôi đã qua hai phần thi, chỉ còn lại một.
Có lẽ phần cuối cùng của kỳ thi tốt nghiệp là khó nhất. Người ta bảo ở phần này, mỗi bài tập đều hợp với từng cá nhân, phụ thuộc vào vai trò được dự định cho thí sinh trong quá trình thám thính. Về mặt cá nhân, mọi người đều được nhận một nhiệm vụ riêng tại các hiện trường khác nhau. Người ta gọi đây là kỳ thi địa hình vì mọi bài tập mà chúng tôi có thể gặp trong đời, trong một địa hình khi thực hiện công tác do thám đều được mô phỏng hóa ở mức chính xác nhất.
Kỳ thi của tôi rơi vào ngày thứ sáu và Ri Hong thông báo về những việc tôi phải làm từ buổi sáng:
- Nhiệm vụ của cô bắt đầu khi mặt trời lặn - anh nói. - Đảng đã cho xây một tòa nhà hai tầng cách trại ta khoảng mười cây số, bên kia núi Kesong và rừng thông, tòa nhà ấy được bày biện theo mẫu các sứ quán nước ngoài nên đơn giản, chúng tôi gọi nó là sứ quán. Cô sẽ được nhận bản đồ vùng lân cận và sơ đồ tòa nhà. Khu vực đó được một bức tường bao quanh và có các lính canh vũ trang đứng gác. Trên sơ đồ, cô sẽ thấy trong tòa nhà có một tủ sắt, trong đó có các tài liệu bằng tiếng Nhật. Nhiệm vụ của cô là đột nhập vào tòa nhà, học thuộc nội dung các tài liệu và đúng sáu giờ sáng hôm sau có mặt ở đây.
Hầu như tất cả mọi thứ sẽ được làm giả một cách hoàn thiện. Trong các phòng ngủ sẽ có các điệp viên đóng vai trò các nhà ngoại giao. Đội lính gác sẽ không được biết thời điểm cô đến. Các điệp viên đóng vai lính gác và nhân viên ngoại giao sẽ đánh giá kết quả của cô. Tất cả sẽ xác thực đến mức có thể: cô phải để ý đến các thiết bị báo động khác nhau, các ca-mê-ra bí mật, các mi-crô và mọi thứ khác.
Để thực hiện nhiệm vụ, cô được nhận các trang bị sau đây: hai khẩu súng lục, một khẩu AK-47 tự động, ba con dao, một bình đựng bọt xà-phòng, một sợi dây thừng có những nút bám, đèn pin bỏ túi, ống nghe khám bệnh, dao cắt kính, địa bàn, chìa khóa giả. Dao làm bằng nhựa, chúng tôi để trong súng thứ đạn bọc sơn, khi bắn ra tuy có gây đau đớn nhưng không để lại những vết thương. Các lính gác cũng có những vũ khí như thế. Nếu cô bị bắn trúng, viết đạn sẽ hằn lại trên người cô và nếu những bộ phận quan trọng sống còn của cô bị trúng đạn, người ta sẽ cho điểm tùy theo đó. Các vũ khí đều được lắp bộ phận giảm thanh, cô được tổng cộng tám băng đạn cho hai súng lúc và hai băng đạn cho súng máy. Vì đây cũng đồng thời là kỳ thi đối với các lính gác, trong trường hợp cần thiết cô có thể dùng võ thuật khiến họ bất tỉnh, nếu trước đó họ không chịu đầu hàng. Chúng tôi muốn mọi việc càng giống thật càng tốt.
Sau khi đã lấy được các tài liệu, cô phải học thuộc nội dung của chúng trước khi đặt lại vị trí. Khi về lại đây, cô phải báo cáo về nội dung đó. Cô cần hỏi gì không?
Thực ra tôi có vô số câu để hỏi, nhưng tôi chỉ sững sờ nhìn anh ta. Tôi không làm sao hiểu nổi tại sao người ta lại cử tôi đi làm nhiệm vụ ấy. Tôi vô cùng kinh ngạc trước sự tinh tế của các thày dạy tôi. Rốt cục, tôi mới lên tiếng nổi:
- Thưa đồng chí, tôi nghĩ rằng các thí sinh khác cũng đã được nhận những nhiệm vụ tương tự.
- Tất nhiên - anh ta đáp -, ít nhất là những nhiệm vụ rất giống nhau. Là những điệp viên hoạt động ngoài địa hình, các cô phải lường tới trước mọi khả năng, và chỉ những trắc nghiệm như thế mới có thể làm sáng tỏ xem thực sự ai là người thích hợp với công tác do thám. Vì thế, chúng tôi không tiếc tiền để duy trì tòa nhà - vô tích sự xét trên những mặt khác - đó.
- Và điều gì cần thiết... - tôi cố gắng diễn đạt câu hỏi một cách càng ngây thơ càng tốt - tóm lại, điều gì cần thiết cho tôi vượt qua thử thách này? Tất cả ư?
Ri Hong phá lên cười.
- Điều đó thì tôi không thể nói được. Cô hãy tập trung để thực hiện toàn bộ nhiệm vụ. Ngoài địa hình, Okhva ạ, không có cái gọi là "yêu cầu tối thiểu". Hoặc cô hoàn thành nhiệm vụ, hoặc không.
Tôi gật đầu ra hiệu rằng tôi đã hiểu. Tôi không muốn biểu lộ sự hồi hộp của tôi, nhưng dạ dày tôi đau quặn vì "cuộc thi" này. Tôi hoàn toàn không có ý niệm là làm sao tôi có được lòng tự tin để lên đường. Nhưng tôi có thể làm gì khác được? Hay là tôi không nhận tất cả những trò này và tự khai trừ mình khỏi đảng? Không, phải nghiến răng làm, phải quyết tâm! Tôi phải làm tất cả những gì có thể.
Ri Hong đứng lên.
- Thôi, nếu cô không có câu hỏi gì thì chiều nay tôi sẽ để cô một mình. Trong vòng vài giờ đồng hồ tôi sẽ mang lại cho cô mọi thứ: trang bị, quần áo và mọi thứ khác. Khoảng 18.00 giờ tôi sẽ trở lại để chính thức cho cô lên đường. Đến khi ấy, tốt nhất là hãy nghỉ ngơi. Và đừng nói về tất cả những điều này cho ai nhé! Hiểu chưa?
Tôi lại gật đầu và Ri Hong ra đi. Tôi trở về buồng ngủ và nằm xoài trên giường. Giá có muốn ngủ cũng không được. Tôi bồn chồn đến nỗi toàn thân tôi run như cầy sấy, cả hàm răng tôi cũng đánh vào nhau lập cập. Tôi thu mình dưới chăn và run cầm cập mấy giờ liền, tôi hoảng sợ chờ hoàng hôn. Chút tự tin tôi có được trong vài ngày trở lại đây, giờ tan tành như mây khói. Toàn bộ tương lai trong đảng của tôi phụ thuộc vào đêm nay, tôi sợ tôi sẽ thất bại.
Suốt chiều Sukhi không về nhà và điều này có lẽ tốt đối với cô. Tôi nghĩ rằng tôi không thể giữ nỗi sợ hãi trong người, chắc hẳn tôi đã kể cho cô nghe tất cả nếu cô ở nhà. Có thể đúng lúc ấy cô đi làm nhiệm vụ của mình. Tôi chỉ dám hy vọng rằng cô sẽ thành công.
Tôi chỉ chìm vào giấc ngủ chập chờn được vài phút, rồi tỉnh giấc vào lúc 17.30 giờ. Ra phòng ngoài, tôi thấy một chiếc va-li khá to. Trong đó có đủ thứ cần thiết: vũ khí, quần áo, các trang bị. Tôi thở dài và mang quần áo vào phòng ngủ và mặc chúng vào người.
Tôi được nhận một bộ trang phục áo liền quần màu đen, giày đen và mặt nạ đen, chỉ để hở cặp mắt. Trông tôi như những người ninja. Tôi đeo một khẩu súng lục lên vai, khẩu kia lủng lẳng bên hông. Dao găm, đèn pin và các băng đạn được tôi cài ở thắt lưng.
Trong ba-lô, tôi tống cuộn dây, ống nghe khám bệnh, đạn dự trữ và bình bọt xà-phòng để vô hiệu hóa các ca-mê-ra bí mật.
Đúng 18.00 giờ, tôi đã hoàn toàn sẵn sàng khởi hành và Ri Hong đến để cử tôi đi. Anh ta nhìn tôi một lượt, vẻ hài lòng và nhận xét: đáng tiếc là anh không mang theo máy ảnh.
Tôi không còn tâm trí đâu để bông đùa. Bộ trang phục khá thoải mái, nhưng tôi thấy mình nực cười trong chiếc mặt nạ với khẩu AK-47 trên vai.
- Nào, nữ đồng chí Okhva, cô có mười hai tiếng để hoàn thành nhiệm vụ - Ri Hong liếc nhìn đồng hồ. - Chúc cô thành công!
- Cám ơn đồng chí - tôi lẩm nhẩm dưới chiếc mặt nạ và khởi hành.
Đó là một tối đẹp trời, không trăng, những hình bóng đã đổ dài. Tôi bước những bước vội vã theo hướng đã định về phía con đường mòn qua dãy núi Kesong và phía rừng thông. Tôi đã nhớ như in con đường tới tòa đại sứ, nhưng để chắc chắn, tôi mang theo mình cả hai tấm bản đồ. Qua bản đồ án tòa nhà, tôi đã phát hiện ra cái tủ sách nằm trong thư viện.
Trong rừng mọi vật tối tăm, tôi chỉ biết dò đường bằng địa bàn. Tôi lắng nghe những tiếng lào xào quen thuộc của khu rừng chập tối: lũ sáo sậu đã chấm dứt dàn đồng ca của chúng, những loài vật nhỏ len lỏi đi kiếm mồi. Tôi còn phải tính đến những bước chân nặng nề của đàn hổ nữa: chúng cũng không phải thứ hiếm ở vùng này.
Trời đã tối hoàn toàn. Tôi bước nhẹ không tiếng động, hầu như tôi dám quả quyết rằng có một thủ hạ của Ri Hong đang rón rén đâu đó quanh tôi, để ý xem tôi làm gì và làm ra sao. Đôi khi, tôi có thể dùng đèn pin nhưng tôi luôn lấy tay che ánh sáng của nó. Cánh rừng chìm đắm trong màn đêm tĩnh mịch.
Tôi cứ tiến như thế và có cảm giác như thời gian là vô cùng tận. Bầu không khí yên lặng ma quái ngự trị trong cánh rừng, chỉ đôi lúc có một làn gió nhẹ vút qua giữa các ngọn cây. Tất cả tạo nên một ấn tượng khá ghê rợn. Tôi biết phần này của trận thử thách chủ yếu là đánh vào tâm lý: ngay việc đi trọn quãng đường dài như vậy trong rừng, vào ban đêm, cũng đã là một thành tích khá rồi. Tôi hay nảy ra ý nghĩ: hay là bỏ chạy? Nhưng chạy đi đâu cơ chứ? Không đâu có chỗ ẩn náu cho tôi cả. Cùng lắm tôi có thể quay lại. Nhưng tôi cũng chưa đến mức thần hồn nát thần tính như thế.
Đột nhiên, tôi chợt liếc thấy ánh sáng từ đằng xa. Tôi tắt và cài lại chiếc đèn pin vào thắt lưng. Tôi cất địa bàn, tiếp tục rón rén nhẹ nhàng từ gốc cây này sang gốc cây khác. Đi như thế được chừng mươi mét thì đến lề rừng. Tôi đã thấy cổng chính của tòa đại sứ.
Cả hai bên cửa đều có những ngọn đèn tỏa sáng chìm trong tường, cả hai bên đều có lính canh. Cạnh đó là một trạm gác nho nhỏ, bên trong cũng sáng điện. Một bức tường trắng cao khoảng bốn thước rưỡi bao quanh khu vực này. Sau bức tường, nếu tôi nhớ không nhầm khi xem bản đồ, có vài khoảng đất trồng hoa, rồi một thảm cỏ dốc dẫn thẳng đến tòa nhà. Nhìn từ cổng ra vào, đã có thể thấy tòa nhà đó.
Tôi theo dõi đám lính canh một lúc. Ngoài hai người lính trực, dường như trong trạm gác cũng có một người và chắc hẳn trạm này được nối với tòa đại sứ bởi một đường dây điện thoại. Một chút sau, một tổ tuần tiễu gồm ba người đi ngang qua đám lính canh, họ vừa trò chuyện vừa vẫy những kẻ trực chiến.
Tôi tụt lại trong rừng và đi về hướng phải, hơi rời xa cái cổng. Tôi mò đến được góc tường và tiếp tục đi theo bờ tường bên kia về phía tòa nhà. Lại một tổ tuần tra nữa đi qua, tôi nằm bẹp giữa những lùm cây cho đến khi họ mất hút. Buộc lưỡi móc vào sợi dây, tôi vội vã ra khỏi cánh rừng và ném sợi dây qua tường. Lưỡi móc mắc vào tường. Tôi trèo lên thành tường, ngồi ở đó và kéo theo sợi dây, chỉ sau đó tôi mới nhảy xuống phía trong.
Tôi thấy mình ở trên thảm cỏ tòa đại sứ, cách tòa nhà chừng ba mươi-ba lăm mét và cách cổng ra vào một khoảng gấp đôi từng ấy. Tôi cũng thấy một toán lính đi tuần xung quanh tòa nhà, nhưng đúng lúc đó họ rời xa tôi. Dán mình vào bờ tường, đột ngột tôi vắt chân lên cổ chạy và cuối cùng, tôi đã ở cùng một hàng với tòa nhà.
Tòa nhà được xây theo trường phái tân cổ điển, phía trước có những kèo cột kiểu Hy Lạp và một sân thượng rộng rãi. Từ bức tường vào đến nhà, tôi còn phải vượt qua chừng mười lăm mét trên địa hình trống trải. Ngó qua cửa sổ, tôi tìm thấy cái thư viện được rọi sáng rất rõ. Khi đó, tôi ngồi sụp xuống trong bóng tối và xem kỹ lại một lần nữa sơ đồ khu nhà. Trên thư viện là một sân thượng có hàng hiên bằng đá, một phòng khách hướng ra đó. Tôi ngửng lên nhìn và thấy trong căn phòng ngủ này không có điện. Nếu quả thực cái tủ sắt nằm trong thư viện, đột nhập theo đường này là thông minh nhất.
Tôi lại ngó vào thư viện. Một người phục vụ bước vào và mời trà các vị khách. Tôi không biết họ có bao nhiêu người, một hay nhiều? Tôi tự hỏi: đợi cho đến khi không còn ai trong thư viện, hay cứ đột nhập vào tòa nhà ngay từ bây giờ và ẩn náu ở đó. Tôi quyết định đột nhập ngay tức khắc. Trời càng ngày càng lạnh, vả lại, có thể về sau phòng ngủ sẽ có người. Hơn nữa, chui thẳng vào thư viện, cho dù không có ai ở đó, cũng là điều ngu xuẩn vì gần như chắc chắn là người ta đã đặt máy thu hình trong đó.
Nhưng làm sao lên được căn phòng đó? Tôi hơi bước ra xa, thận trọng để dừng dẫm phải thiết bị báo động, và nhận thấy một máng nước mưa ở góc tòa nhà. Tôi nhìn quanh: không một ai. Cúi đầu sát đất, nhanh như gió tôi lao qua thảm cỏ. Tôi dán mình vào tường và nhìn quanh xem có lính gác không? Một toán lính tuần tiễu đến gần cạnh trước của tòa nhà, đối diện nơi tôi đứng, tôi nghe thấy tiếng chân và câu chuyện cố kìm của họ. Bám lấy ống máng, từ từ tôi leo lên. Tôi nhào khỏi làn can đúng vào lúc đội tuần tra xuất hiện. Tim đập thình thịch, tôi ẩn người giữa những cây cột hoa lệ và chờ cho họ đi khỏi hẳn. Nếu chậm một thoáng nữa, hẳn họ đã phát hiện ra tôi.
Tôi liếc nhìn cửa sổ buồng ngủ. Trong phòng vẫn tối om, vì vậy tôi trườn vào phòng, thận trọng để dưới thư viện người ta đừng nghe thấy tiếng chân tôi. Đến gần chiếc cửa sổ đầu tiên, tôi tìm cách mở nhưng nó bị khóa chặt. Tôi lẻn qua cửa ra vào, thử mở cửa sổ thứ hai. Nhưng nó cũng bị khóa kín.
Cuối cùng tôi bước đến cửa ra vào. Chẳng những nó bị khóa mà trên đó, tôi còn nhận ra những sợi dây dẫn chứng tỏ thiết bị báo động bên trong. Như vậy, thử mở cửa ra vào không phải là việc làm thông minh.
Tôi trườn về cửa sổ thứ nhất, hơi nằm về phía sau căn nhà. Tôi móc ba-lô lấy con dao cắt kính và khoét một lỗ kính, trên một chút so với cái điểm mà tôi nghi là có tay cầm. Bỏ mảnh kính ra, thò tay vào, tôi tìm thấy then cửa và rút một cái. Cánh cửa sổ được nâng lên, kêu nho nhỏ. Thế là tôi vào được nhà.
Trườn vào phòng, tôi đóng cửa sổ. Tôi đặt lại miếng kính bị cắt vào vị trí của nó, rất khít. Sau đó, tôi bắt đầu áng chừng địa hình.
Hầu như tôi không thấy gì khác ngoài việc chẳng có ai trong phòng ngủ. Cạnh một bên tường, có một cái giường kiểu sang trọng Baldacco và một lò sưởi chạm trổ lộng lẫy. Những bức trướng nhung rủ từ trần nhà. Tôi không xác định nổi là căn phòng này có người ở không. Phòng có ba cửa ra vào, một cửa hướng ra kho chứa quần áo, cửa kia dẫn ra nhà tắm, cửa thứ ba mở ra cầu thang. Cánh cửa này mở hờ khiến tôi có thể nhìn qua được. Hành lang tầng một ngập dưới ánh đèn sáng chói, kéo dài chừng 18-20 mét đến đầu kia của tòa nhà. Cầu thang nằm ở giữa hành lang. Tôi mở rộng cánh cửa chút xíu, cố gắng mường tượng trước mắt sơ đồ tòa nhà. Ngoài hành lang, ở cả hai phía phải có một cánh cửa phòng ngủ, rồi cách đó chừng sáu thước lại có hai cửa nữa. Rồi đến cầu thang và năm cánh cửa nữa, hai cửa ở hai bên và cửa thứ năm ở chính diện với tôi, cuối hành lang.
Tôi đóng cửa, liếc nhìn đồng hồ. 22.00 giờ. Từ giờ đến nửa đêm, có lẽ ai nấy sẽ lên giường. Tôi không thể làm gì khác, chỉ biết chờ đợi.
Tôi mở cánh cửa vào kho chứa quần áo, bật đèn pin. Nhà kho rộng rãi, chật cứng các bộ âu phục và quần áo dạ hội may kiểu phương Tây. Tôi chui vào sau kho, nấp sau một rèm cửa bằng một thứ vải dạ đắt tiền gì đó, và tắt đèn. Nếu phòng ngủ có người ở, tôi phải chờ đến khi họ ngủ say, lúc đó tôi mới có thể xuống tầng dưới được. Trước mắt, tôi không thể tìm được nơi trú ẩn nào tốt hơn vì nếu ra hành lang, hẳn tôi sẽ gặp nguy hiểm.
Một giờ trôi qua. Tôi bắt đầu cảm thấy toàn bộ tình thế hơi vô nghĩa. Một phụ nữ ở độ tuổi hai mươi như tôi đang ngồi đây, kẻ đã bí mật đột nhập vào một tòa đại sứ trá hình để được làm gián điệp. Tất cả những điều này mới xa lạ làm sao với cuộc đời thường nhật, với những món ăn mẹ tôi thường nấu ở nhà, với hình ảnh cha tôi thiu thiu ngủ mỗi chiều, với cảnh các em tôi cãi cọ nhau? Chẳng biết giờ đây họ làm gì? Có lẽ họ cũng đang nghĩ đến tôi?
Cửa phòng ngủ bật mở và điện được bật lên, làm gián đoạn luồng suy nghĩ của tôi. Tôi nghe tiếng chân và tiếng nói chuyện của một người đàn ông và một phụ nữ. Họ nói tiếng Nhật dù tôi không hiểu hoàn toàn. Toàn thân tôi căng lên, tim đập thình thịch, khẩu AK-47 chạm vào tường. Tiếng nói của người phụ nữ ngày càng to và đột nhiên, đèn bật sáng trong nhà kho. Ánh sáng xuyên quá đống quần áo, hắt vào cả mắt tôi. Người phụ nữ phá lên cười và buông một câu đại loại "sống ở Kairo nửa năm thật là kinh người", nếu tôi hiểu đúng. Những chiếc móc áo trượt về phía tôi cùng các bộ quần áo treo trên đó. Người phụ nữ sột soạt cởi quần áo rồi treo lên móc. Sau đó, bà ta lấy gì đó từ một cái móc khác, thình lình tắt điện và tôi lại ở trong bóng tối. Tiếng bà ta xa dần. Tôi không biết người đàn ông có vào cùng bà ta không, nhưng nhiều phút trôi qua và tôi không thấy ông ta. Sau đó tôi thấy một cách mập mờ là người ta tắt điện ở phùng ngủ và vài phút sau, bầu không khí trở nên tĩnh lặng.
Mạch tôi giần giật. Giờ đây, tôi phải chờ ít nhất hai tiếng cho đến khi họ ngủ. Tôi nhắm mắt, dựa đầu vào tường. Phải ứng khởi lập tức, tôi nghiền ngẫm, nhưng biết làm gì với một thời hạn ngắn ngủi như thế này? Tôi chỉ có thể cân nhắc đến chừng nào chưa phải hành động.
Khi cảnh yên tĩnh đã kéo dài khá lâu, tôi thận trọng rẽ đóng áo quần và đứng lên. Cửa nhà kho hơi để mở. Tôi nghe ngóng rồi mở rộng thêm cánh cửa.
Đột nhiên tôi để ý đến một tiếng lạo xạo. Tôi quay ngoắt lại và thấy người phụ nữ ngồi dậy trên giường. Nhưng đèn đã bật sáng và tôi phải chớp chớp mắt vì nhức.
- Im mồm! - tôi thét lên bằng tiếng Nhật và rút súng lục tiến đến gần bà ta. Đó là một phụ nữ trung niên, đầu phi-dê lịch sự kiểu phương Tây. Bà ta mặc bộ đồ ngủ rất đắt tiền màu vàng nhạt. Miệng bà ta mở, tay ôm mặt. Khi tôi chỉ còn cách vài bước chân, đột nhiên người phụ nữ mỉm cười và thả tay xuống.
- Được rồi - bà nói tiếng Triều Tiên. - Chúng tôi coi như đã tử trận, hoặc đã bất tỉnh nhân sự. Cô có thể bỏ qua chúng tôi rồi.
Tôi lưỡng lự đứng lại.
- Đừng lo lắng, Okhva ạ - bà ta an ủi tôi. - Trước sau chúng tôi cũng tính đến cô. Đặc biệt, tôi đánh giá cô vì cô đã không hạ thủ tôi.
Tôi mỉm cười sau chiếc mặt nạ.
- Hy vọng bà sẽ tắt điện và im tiếng.
- Tất nhiên - người phụ nữ đáp. - Chúc cô may mắn.
Người đàn ông ngáy trong suốt khoảng thời gian đó và không có dấu hiệu gì chứng tỏ ông ta nghe thấy một lời nào. Tôi hạ khẩu súng lục và tiến đến cánh cửa. Ngọn đèn tắt phựt.
Tôi vù ra hành lang. Ở đó chỉ có một vài ngọn đèn đêm chiếu rọi. Tôi rón rén tiến đến cầu thang, dẫn xuống tầng một bằng một khúc lượn rộng. Tôi đi đôi giày đến cao su nên không gây ra tiếng động trên những bậc thang bằng đá cẩm thạch. Lăm lăm khẩu súc lục trong tay, tôi bước vào căn tiền sảnh rất rộng va suýt nữa tôi đâm sầm vào người lính gác ngồi bên chiếc bàn làm việc cạnh cửa ra vào.
Chúng tôi nhận ra nhau cùng một lúc, nhưng trước khi người lính gác kịp trở tay, tôi đã hạ vài phát đạn vào người anh ta. Sơn bắn toe toét trên ngực áo và trên mặt trái anh ta, anh ta cười ruồi và nằm lăn gọn ghẽ ra sàn.
Đứng trên bậc thang cuối, tôi nhìn quanh. Ở hai bên phải và trái, có những hành lang được chiếu sáng lờ mờ với những cánh cửa. Thư viện nằm ở cuối hành lang bên trái, cửa đóng then cài. Không thấy ánh điện ở dưới cánh cửa, vì vậy tôi có thể giả thiết là không có ai trong đó. Khi đó, tôi nhìn lên và thấy một chiếc máy ca-mê-ra đang từ từ quay về phía tôi. Lăp tức tôi nằm bẹp xuống để tránh góc nhìn của chiếc máy, và lăn đến giáp tường. Tuy nhiên, tôi phát hiện ra con mắt điện tử ở trên tường, trên tôi đôi chút. Tim tôi lại đập thình thịch. Tôi chưa hành động theo phương pháp và sai lầm tiếp theo của tôi có thể là sai lầm cuối. Khi chiếc máy ca-mê-ra quay sang hướng khác, tôi đứng dậy và lao về phía thư viện. Cửa ta vào đóng kín. Tôi phải mất một phút mới móc được chiếc chìa khóa giả ra và mở được cánh cửa, tôi nhào vào phòng rồi khóa cửa lại.
Tôi bật chiếc đèn pin. Chiếc tủ sắt phải nằm sau một bức họa ở gần cửa ra vào. Tôi rờ rẫm dọc tường rồi dừng lại ở một bức thủy họa có vẻ đáng ngờ. Tôi hạ bức tranh khỏi tường và quả thực là chiếc tủ sắt nằm sau nó.
Tôi đặt chiếc ba-lô xuống, lấy chiếc ống nghe khám bệnh để mở tủ sắt. Tôi quay chiếc vòng, lắng nghe xem khi nào có tiếng khe khẽ. Chưa đày một phút và chiếc tủ sắt bật mở.
Tôi thò tay vào tủ và tìm thấy một tờ giấy duy nhất. Tôi mở giấy ra xem:
"Okhva" - tôi thấy dòng chữ viết bằng tiếng Nhật trên giấy - "cô đã đi được một nửa trên con đường đến đích! Buổi sáng, khi gặp lại sĩ quan huấn luyện Ri Hong, hãy nhắc lại điều này, càng chính xác càng tốt. Chúc cô may mắn."
Tôi bay bổng vì vui sướng khi đặt lại tờ giấy vào tủ, và tôi đóng, rồi khóa lại cánh cửa tủ. Tôi treo lại bức ảnh về vị trí của nó. Có lẽ tôi vẫn thực hiện được nhiệm vụ này chăng?
Tôi để ý đến tiếng sỏi kêu ngoài đường và tôi thấy một chiếc xe Jeef quân sự phóng như bay về phía tòa đại sứ. Sửng sốt, tôi tắt đèn pin và nhào ra phía cửa sổ. Sao người ta biết nhanh thế?
Khi đó tôi chợt nhận ra. Dù tôi có thoát khỏi "con mắt" của máy ca-mê-ra, nhưng thân hình "bất tỉnh" của người lính gác chắc chắn đã bị để ý đến.
Chiếc xe Jeef phanh kít lại, hai người nhảy khỏi xe. Tôi nghe tiếng cánh cửa tòa nhà sịch mở, phải hành động thôi. Tôi phải thoát ra ngoài.
Tôi nhìn nhanh những cánh cửa sổ. Chúng đều bị đóng, chỉ có thể phá cùng bộ khung gỗ của chúng. Không còn đường ra nào khác, ngoại trừ hành lang mà tôi đã đột nhập vào.
Những bước chân đã dậm thình thịch ngoài hành lang và một thoáng sau, cánh cửa bật mở. Tôi ngồi sụp xuống, chờ đợi. Trong phòng tối tăm, người ta chưa thể nhìn thấy tôi. Tôi siết chặt khẩu súng lục, sẵn sàng nhả đạn.
Đột ngột điện sáng bừng. Tôi lập tức nhả đạn và bắn trúng hai lính gác ngoài cửa. Họ quẳng vũ khí và nằm vật ra sàn nhà, người bị phủ đầy những vết sơn đỏ. Tôi bật dậy, vùng ra ngoài, trong khi chạy tôi nhồi thêm băng đạn mới vào khẩu súng.
Tôi nhớ trong căn tiền sảnh có một con mắt điện tử, tôi tránh tầm hoạt động của nó nhưng bận tâm đến điều này là thừa. Chắc chắn hai người lính gác đã báo động cho mọi người trong nhà, vì tôi nghe thấy những bước chân ở tầng trên và những tiếng thét ngoài sân. Tôi lao ra ngoài cửa chính và chạy như bay trên sân thượng về phía thảm cỏ. Chắc hẳn cửa chính bây giờ cũng được canh phòng, như vậy tôi chỉ có thể chạy thoát theo con đường tôi đã chui vào: vượt tường. Nhưng vừa được mấy bước, tôi đã thấy một nhóm tuần tra gồm ba người quay vòng ở góc sân. Đám lính tuần nằm sấp xuống và chuẩn bị nhả đạn từ những khẩu súng tự động. Tôi nhảy ra sau một chiếc cột to và dày, những viên đạn bọc sơn lập tức bắn chi chít lên nền đá. Một tay cầm khẩu AK-47 và bắn một tràng vào người họ, tay kia tôi vẫn lăm lăm khẩu súng lục. Sau đó tôi chạy ào qua sân thượng và nổ súng liên hồi. Tôi nghe thấy một tiếng thét ngỡ ngàng và đau đớn. Chắc hẳn một người trong số họ đã trúng đạn của tôi. Ở rìa sân thượng, tôi nhào qua lan can và lao vút đi trên mặt cỏ. Hai lính gác ôm súng máy rượt nhanh theo tôi, những viên đạn cắm xuống mặt đất ngay bên hông tôi. Tôi quay lại và vừa chạy, tôi vừa nhả những viên đạn cuối cùng trong khẩu AK-47. Không trúng đích, nhưng họ phải nằm rạp xuống để tránh đạn và như thế, tôi có thêm thời gian. Tôi đã chạy đến bên bức tường đổ bóng xuống bãi cỏ và hy vọng cái bóng của nó sẽ khiến tôi ẩn náu được. Rồi tôi dừng lại và nạp thêm đạn vào khẩu AK-47. Lấy cuộn dây ra, tôi quẳng qua tường và kéo, nó mắc lại. Tôi choàng khẩu AK-47 và ba-lô lên vai. Đúng lúc ấy, bên tai tôi vang lên một tiếng động khiến tôi lạnh toát người: đó là một chuỗi những tiếng sủa của lũ chó săn đang giận dữ đên cùng cực!
Họ đã đuổi gần kịp tôi, ngày càng gần!
Tôi hoảng hốt trèo lên bức tường. Nỗi sợ hãi khiến tay tôi như không còn sức lực, chân tôi trượt lên nền đá. Một tiếng kêu chứng tỏ họ đã thấy tôi. Lũ chó ngày càng tiến đến gần tôi. Tôi tuyệt vọng bám vào bờ tường và ngã vật xuống nền đất ở phía bên kia. Chỉ một thoáng sau đó, lũ chó đã gào rú ở đúng chỗ mà trước đó một tẹo, tôi còn ở đấy!
Tôi phải nghỉ một thoáng trước khi chạy tiếp về phía rừng thông. Tay phải tôi lăm lăm khẩu súng lục, chờ đọi xem khi nào xuất hiện lính canh. Chỉ còn cách góc phía Đông Nam độ mươi thước, tôi chạm trán một nhóm lính đi tuần. Miêng thét vang, tôi bắn liền 7-8 chuỗi và vẫn tiếp tục, không giảm tốc lực. Họ tìm cách bắn lại tôi, nhưng tôi nổ súng liên hồi cho đến khi hết đạn, và cuối cùng cả ba người lính gác đều phải nằm lăn dưới đất, người đầy vết sơn.
- Giỏi lắm! - tôi nghe tiếng khen khi chạy ngang qua họ.
Nhào vào rừng, tôi dùng tay còn lại lấy đèn pin và bật một chút. Tôi cảm thấy như tim sắp vỡ tung và tôi biết phải nghỉ, nhưng trước hết tôi muốn phải rời xa tòa đại sứ. Thực ra tôi không muốn dùng đèn, nhưng không làm sao khác được. Bằng không, chỉ trong nháy mắt, chắc chắn tôi sẽ đâm đầu vào một cây nào đó.
Tôi dừng lại sau khi chạy được chừng trăm mét. Dựa lưng vào một gốc cây, tôi tắt đèn pin. Trong đời chưa bao giờ tôi nghẹt thở đến thế, tim tôi như bật ra khỏi lồng ngực. Mê mẩn, tôi nạp lại đạn vào súng lục, đầu thì nghĩ đến chuyện không biết bao giờ mới chạy tiếp được đây.
Nhưng tôi không có thời gian để trầm tưởng. Từ xa xa, lại vọng lên tiếng chó sủa và tôi cho rằng họ lại dùng chó để săn tôi.
Tôi nhỏm dậy và chạy tiếp. Lũ chó được bịt mõm dẫn đi và như thế, chúng không thể chạy nhanh hơn người dẫn chúng. Tôi loạng choạng trong rùng cây, lại phải bật đèn pin. Cũng phải mất vài phút nữa lũ chó mới đánh hơi thấy tôi và nếu khéo, tôi vẫn có thể thoát chúng.
Chạy được chừng một trăm mét, tôi tới một con suối nhỏ, lòng suối chỉ rộng vài bước chân. Tôi nhảy xuống suối và đi ngược chiều nước chảy. Chân tôi như đóng băng dưới dòng nước lạnh như kem! Đi như thế vài trăm bước, rồi tôi vọt sang bờ bên kia và lao tiếp đi trong rừng. Lúc ấy, tôi tìm một cây để có thể trèo lên được, và may thay, rừng thông có khá nhiều cây như thế.
Năm phút sau, tôi đã chễm chệ trên đỉnh một cây thông đỏ khổng lồ. Tôi nghe tiếng chó sủa từ xa, và thấy cả ánh đèn pin, nhưng cho dù những kẻ rượt theo tôi có thấy dấu vết tôi đi nữa thì dấu này đã mất ở bên suối. Tôi chờ để lấy lại sức, và rồi họ cũng quay trở lại tòa nhà, chấm dứt cuộc truy đuổi.
Thở dài nhẹ nhõm, tôi đầm đìa nước mắt. Tôi hoàn toàn kiệt sức cả về tinh thần lẫn thể xác. Nhìn đồng hồ, tôi thấy đã 2 giờ 20. Vỏn vẹn trong 4 tiếng, tôi còn phải đi một quãng đường rất xa! Tụt xuống đất, tôi móc la bàn và đèn pin. Đã đến lúc phải tiếp tục hành trình.
Chân nọ nối tiếp chân kia như một cái máy, mồ hôi tôi ròng ròng nhưng tôi run cầm cập trong đêm lạnh. Đầu tôi như trống rỗng, tôi cũng không còn cảm thấy phải rảo bước nữa, chả còn gì quan trọng. Tôi cứ đi, cứ đi và ttự nhủ trong lòng: sẽ có lúc về đến trại.
Năm giờ sáng, tôi về đến con đường mòn ở núi Kesong. Chân tôi, nhất là đầu gối và gót, đau điếng và giật giật, tôi bắt đầu lên cơn sốt. Tôi lê bước tiếp xuống núi, rốt cục cũng về đến sân trại. Đến lúc ấy, tôi đã òa lên khóc nức nở và không còn nguyện vọng nào khác, ngoài việc chui vào giường và ngủ liền hai, ba ngày. Tôi mở cửa nhà và khập khiễng bước vào.
Ri Hong và My Ong chờ tôi trong nhà, họ ngủ gà ngủ gật trên ghế đi-văng. Tất nhiên khi tôi vừa vào, họ đã tỉnh ngay vào nhìn tôi chờ đợi.
Một ngày sau, khi phân tích các báo cáo, người ta đã chấm tôi 98 điểm và đây là một trong những kết quả xuất sắc nhất kể từ khi trại được mở. Tôi không được điểm tối đa chỉ vì tôi đã "hạ sát' quá nhiều lính gác, và nói chung tôi làm mọi thứ quá ầm ĩ.
Tuy nhiên, khi bước vào nhà, tôi chỉ còn sức nhắc lại như máy những câu nói mà trước đó mấy giờ, tôi đã ghi lòng tạc dạ: "Okhva, cô đã đi được một nửa trên con đường đến đích! Buổi sáng, khi gặp lại sĩ quan huấn luyện Ri Hong, hãy nhắc lại điều này, càng chính xác càng tốt. Chúc cô may mắn."
Trước khi ngã sóng xoài bất tỉnh trên mặt đất, tôi còn kịp nhìn thấy Ri Hong mỉm cười.
CHƯƠNG NĂM

Trong những năm từ khi tôi được tuyển làm điệp viên đến vụ đặt bom máy bay, tôi được nhận hai nhiệm vụ lớn mà mục đích là để thử thách những khả năng của tôi trong vai trò một gián điệp quốc tế.
Tháng Bảy năm 1984, khi tôi đã rất thành thạo sử dụng vũ khí và võ thuật tay không, một buổi sáng sớm, điệp viên đặc biệt Chang đi Mercedes đến tìm gặp tôi. Đó là một ngày Chủ nhật, tôi được nghỉ và đúng vào lúc tôi đang ngồi thư viện đọc tập 26 của bộ "Tuyển tập Kim Nhật Thành", thì Vulchi đưa Chang vào gặp tôi. Tôi ngạc nhiên khi thấy ông ta, đến nỗi nhảy dựng lên, không nói được câu nào.
- Nữ đồng chí Okhva - ông ta niềm nở bắt tay tôi. - Rất vui được gặp lại cô. Tôi nghe rằng cô vừa đạt kết quả thi rất tốt.
- Cám ơn đồng chí - tôi siết chặt tay ông ta.
- Đồng chí cố gắng thu xếp đồ đạc trong vòng 15 phút - Chang nói tiếp. - Chi cần mang chút quần áo thôi, ngoài ra không cần gì cả. Xong thì chúng ta gặp nhau ở ngoài kia.
- Vâng, tôi xong ngay đây ạ - tôi đáp và tìm cách giấu sự ngạc nhiên và cả cảm giác bất an. - Tôi sẽ ra ngay ạ.
Chỉ một lát sau, chúng tôi đã đi trên chiếc Mercedes trên con đường núi. Chang đặt vài câu hỏi lịch sự về sức khỏe của tôi, nhưng ông ta không hề nói chúng tôi đi đâu và làm gì. Tôi không thể biết, phải chăng tôi bị tống khỏi trại, hay bị đưa đi đày ải - nếu một người dân Bắc Hàn tự nhiên bị một cán bộ đảng cao cấp đến gặp, không thể tính trước được điều gì. Chang im lặng, như coí thể thấy ông ta trong tâm trạng vui vẻ, nên tôi hy vọng có lẽ không phải mình bị bắt.
Chúng tôi đên trung tâm quân báo và được đưa vào phòng của ông Kwang, trưởng phòng. Kwang còn trẻ, người cao ráo, nhưng tóc đã sớm hói và mặc dù ở trong phòng, ông ta vẫn đeo kính râm. Trong phòng, còn có một người đàn ông già và thấp, bộ tóc dài đã bạc, da mặt nhàu nhĩ như da thú. Khi chúng tôi bước vào, cả hai đều đứng lên chào. Ông già cử động có vẻ khó khăn.
Kwang giới thiệu ông ta với tôi.
- Đây là đồng chí Kim Song Ir, điệp viên xuất sắc nhất trong lịch sử quân báo của chúng ta. Okhva, cô hãy coi đồng chí ấy như ông của cô! hai ông cháu sẽ có nhiều thời gian với nhau đấy.
Chúng tôi ngồi xuống và Kwang bắt đầu nói về lý do của cuộc gặp gỡ.
- Đồng chí Kim, nữ đồng chí Kim, tháng sau, cũng vào khoảng này, các đồng chí sẽ được cử ra nước ngoài. Đối với Okhva, đồng chí sẽ có nhiệm vụ thu thập kinh nghiệm trong môi trường ngoại quốc. Các đồng chí sẽ qua nhiều thành phố Âu, Á, và tôi muốn Okhva sẽ có kinh nghiệm lai vãng bí mật từ nước này sang nước khác. Đây cũng là khoảng thời gian đồng chí có dịp gặp gỡ những nền văn hóa khác và tôi muốn trong chuyến đi, đồng chí sẽ ghi chép kỹ lưỡng lại mọi thứ. Okhva, đây là cơ hội lý tưởng cho đồng chí, để đồng chí có thể chứng tỏ được rằng trong tương lai, chúng tôi có thể giao cho đồng chí cả những nhiệm vụ bí mật nhất!
Trong chuyến đi này, hai đồng chí sẽ đóng vai cha và con gái. Cả hai đồng chí đều nói thạo tiếng Nhật và ở Châu Âu, vỏ bọc hoàn thiện nhất là các đồng chí sẽ là hai du khách. Các đồng chí sẽ qua Moscow, Budapest, Vienna, Copenhague, Frankfurt, Zurich, Geneva, Paris, Macao, Quảng Châu và Bắc Kinh. Ở các nước cộng sản, các đồng chí sẽ dùng hộ chiếu ngoại giao Bắc Triều Tiên, nhưng ở Phương Tây các đồng chí sẽ có hộ chiếu giả Nhật Bản mang tên Shinichi và Mayumi. Shachini sẽ là phó chủ tịch hãng Ohoi Transporttation, còn Mayumi là sinh viên tốt nghiệp Trường Nữ sinh Yaoyama, đã có bằng về nội trợ. Các đồng chí sẽ tìm hiểu thêm các thông tin chi tiết trong tập hồ sơ này, nhưng đây là điều căn bản.
Tôi cũng phải nói thêm rằng chặng cuối cùng của chuyến đi, Okhva sẽ phải đi một mình. Khi từ Châu Âu qua Trung Quốc, Song Ir còn phải ở lại một mình trong một ngày để thực hiện nhiệm vụ của đồng chí, và bay một mình đi Hán Thành và ở đó, đồng chí cũng có một nhiệm vụ riêng. Chuyến bay qua Trung Quốc của Okhva, một phần để đánh lạc hướng sự chú ý nhằm vào hai đồng chí, phần nữa, để chúng tôi thử xem có thể tin vào đồng chí hay không, nếu đồng chí đi một mình.
Càng nghe Kwang, tôi càng cảm thấy hồi hộp. Rốt cục thì, sau những năm tháng kéo dài tưởng chừng vô tận của quá trình huấn luyện, tôi cũng được cử đi hoạt động! Ở Kesong, có những điệp viên thạo nghề còn phải chờ 10-15 năm để có nhiệm vụ đầu tiên, vậy mà tôi chỉ phải chờ 4 năm! Tuy nhiên, không cần phải nói là tôi cảm thấy sợ hãi và lo âu vì phải nhận một trọng trách như thế. Lần cuối cùng, và cũng là lần duy nhất ra nước ngoài, là khi tôi ở Cuba, và đại đa số dân Bắc Hàn, trong đời, không bao giờ được đặt chân khỏi quê hương. Tôi cảm thấy, những khái niệm như phi trường, khách sạn, đổi ngoại tệ... đều vượt quá khả năng của tôi. Đấy là còn chưa nói đến chuyện chúng tôi phải nhập cảnh các quốc gia Phương Tây một cách bất hợp pháp, như những điệp viên thù địch.
Vài tuần trôi qua, trong thời gian ấy, người ta chuẩn bị cho chuyến đi của chúng tôi; tôi thì tranh thủ đọc những tờ tạp chí thời trang Nhật Bản và xem phim ảnh để có được cách ăn mặc, trang điểm và cư xử "giống thật". Tôi cũng còn phải đọc rất nhiều sáng vở hướng dẫn đi lại của nước ngoài. Tôi học thuộc lòng rất nhiều kiến thức mới, và thấy tự tin và khôn khéo hơn. Tôi cảm thấy mình sẽ trở thành điệp viên thượng hạng, nhưng các điệp viên huyền thoại của Bắc Hàn và KGB mà chúng tôi xem trong phim. Tôi thấy tự hào khôn tả! Trong khi đa số những thanh nữ cùng độ tuổi với tôi chỉ dám mong muốn là người nội trợ, thì tôi sẽ được đi cả thế giới. Tôi đâu có đoán được điều gì thực sự sẽ chờ tôi trong tương lai.
Thời gian tạt qua Châu Âu trong chuyến đi ấy, giờ đây, đã nhạt nhòa trong tâm tưởng của tôi. Những cảm tưởng đầu tiên của tôi về các nước tư bản ư? Tôi sững sờ vì các đô thị đa phần đều sạch sẽ, ở đâu sự phục vụ cũng tốt. Cố nhiên, tôi ngạc nhiên nhất là hàng hóa tràn ngập các cửa hiệu. Nhưng thứ đồ xa xỉ như đồ trang sức, đối với tôi là hoàn toàn xa lạ, nhưng tôi thấy đặc biệt nhất là sao có nhiều loại thực phẩm đến thế? Biết bao thứ để ăn!
Nhưng tôi phải thành thật thừa nhận rằng, niềm tin được nuôi dưỡng trong tôi không bị suy suyển, theo đó, các đô thị Phương Tây thật hư hỏng, đồi trụy và hạ đẳng. Ở Copenhague và Paris, tôi phẫn nộ khi thấy nhiều cửa hiệu bán đồ khiêu dâm, cũng như trước sự hiện diện của gái mại dâm. Ở Thụy Sĩ, tôi công phẫn trước cách sống của giới thượng lưu với áo lông thú, xe hơi li-mu-din Daimler, vòng tai kimh cương... Hai mươi hai năm ròng, tôi được giáo dục để tin tưởng một cách vững chắc rằng mọi thứ ở Phương Tây đều là ác quỷ, vì thế, tôi nhìn thế giới mới này theo con mắt đã được "lập trình".
Ngoài ra, tôi cũng không thể nhận xét được các thành phố vì cứ phải luôn luôn để tâm đến cái vỏ bọc của mình. Đi lại ở nước ngoài đã là việc lạ lẫm và khó chịu, nhưng trong cả khoảng thời gian ấy, tệ nhất là tôi cứ phải nhập vai một ai đó, không phải là tôi. Cùng Song Ir, chúng tôi đã thăm viếng tất cả những thắng cảnh du lịch quan trọng nhất, đây là việc cần thiết để tạo ra vỏ bọc du khách, nhưng hễ cứ thoáng thấy cảnh sát là tôi lại hoảng hốt. Tôi đặc biệt mất bình tĩnh khi gặp du khách Nhật, nhất là nếu họ tim cách bắt chuyện với chúng tôi. Bởi vậy, trong cả chuyến đi, tôi luôn bị căng thẳng.
Chúng tôi được nhận 10 ngàn USD để chi trả mọi chi phí trong chuyến đi và người ta chờ dợi chúng tôi mua quà cáp cho thượng cấp và đồng chí chủ tịch. Như tôi được biết, các điệp viên hoạt động ở nước ngoài phải bày tỏ lòng biết ơn như thế cho người cử họ đi ngoại quốc. Theo thước đo của Phương Tây thì đó đều là những món quà nhỏ nhặt: những mặt hàng thực tiễn như bút bi, hay bật lửa, ở Bắc Hàn đều là thứ quý hiếm. Trong thực tế, chúng tôi hầu như không tiêu gì cho riêng mình, chúng tôi chỉ chi nhũng khoản thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, nhưng đồng chí Kim cũng "tự thưởng' cho bản thân một chiêc đồng hồ đeo tay mạ vàng đắt đỏ. Ở Bắc Hàn, đồng hồ đeo tay có giá trị vô cùng lớn, và ai có đồng hồ, người ấy được kính trọng lắm. Về sau, Kim nói với tôi rằng gia đình ông coi chiếc đồng hồ vàng là "phi vụ" thành công nhất của ông, kể từ khi được tuyển chọn làm điệp viên.
Bản thân tôi muốn mua một pho tượng nàng tiên cá nho nhỏ ở Genava, có điều nàng tiên ấy... khỏa thân nên tôi biết không làm sao mang về Bình Nhưỡng được. Thế là tôi mua một vòng đeo cổ kèm chiếc thánh giá bằng vàng. Biểu tượng ấy đối với tôi không có ý nghĩa gì cả, nhưng Song Ir mắt sáng lên khi thấy tôi đeo trên cổ. Thú vị là khi tôi về nước, Kwang lập tức khen ngợi tôi; theo ông ta, chiếc thánh giá đã khiến phi vụ giấu mặt của chúng tôi hoàn thiện hơn. Cố nhiên, tôi cũng không nói rằng tôi mua nó chỉ cho vui...
Phải thừa nhận rằng "chuyên ngành" điệp viên của tôi - nếu có cái thứ như vậy - đã không mấy thành công ở Thụy Sĩ. Phong cảnh ở đây quá tuyệt vời khiến tôi không muốn rời nó!
Tại Paris, Kim và tôi đi riêng, nhưng chúng tôi cũng cùng nhau giả làm du khách trong vài ngày. Ở thành phố này, tôi thích rất nhiều thứ, nhất là vẻ lịch thiệp của phụ nữ. Tôi sững sờ nhận thấy phụ nữ ở lứa tuổi tứ tuần cũng ăn vận táo bạo như các cô gái đôi mươi. Vẻ đẹp vương giả của những tòa nhà cổ kính cũng thu hút tôi. Tuy nhiên, tôi đã quên đi những niềm vui này khi một tên cướp phóng xe máy trên đường giật chiếc xắc của tôi, hoặc khi một tài-xế taxi - lợi dụng chúng tôi ngơ ngác  - đã lừa chúng tôi khá đau!
Suốt chuyến đi, Song Ir đã tỏ ra là một người đàn ông rất đứng đắn. Chúng tôi ngủ cùng phòng, nhưng không bao giờ ông nói một câu nào "mờ ám". Trước khi lên đường, tôi có phần lo ngại về điều này và quyết định rằng chỉ cần ông tỏ ra "có vấn đề" một chút là tôi sẽ trổ tài võ thuật để cho ông một trận nên thân. Song Ir là một điệp viên cựu trào, nhưng ông đã có tuổi và tôi không nghi ngờ vì về chuyện nếu cần, tôi có thể đối phó với ông. Nhưng, trái với những gi tôi lo ngại, tôi cư xử với tôi hệt như cha con. Trong chuyến đi đầu tiên, được làm việc cùng một điệp viên khả kính và giàu kinh nghiệm thật yên lòng: Song Ir có thể khiến tôi yên tâm mỗi khi tôi lo lắng làm sao để nhập vai giống như thật. Ông đã sang Châu Âu nhiều lần và đã có trong người sự tự tin mà chỉ những ai thật giàu kinh nghiệm mới có đưọc.
Cho dù chúng tôi được dặn dò nghiêm khắc rằng không được kể cho nhau nghe về cuộc đời riêng tư, nhưng không sao tránh được việc chúng tôi biết chút này khác về nhau. Song Ir có gia đình, các con ông đã lớn cả và ông theo nghề điệp viên từ lâu đến nỗi chính ông cũng không nhớ là từ bao giờ. Trong những dịp nhận nhiệm vụ đầu tiên trong đời, ông đã đi khắp thế giới, sang cả Mỹ. Tôi cảm thấy với vẻ bề ngoài mảnh dẻ và từng trải, về căn bản ông là người lịch thiệp, mặc dù tôi chắc rằng trong đời, khi chiến đấu để bảo vệ chủ nghĩa cộng sản, ông đã giết nhiều người. Ông đã gần ngưỡng thất thập, lúc nào cũng phàn nàn vì dau dạ dày. Tôi tin rằng sau một thời gian, chúng tôi gắn bó với nhau không chỉ vì nhiệm vụ. Ít nhất, chúng tôi cũng quan tâm đến số phận của nhau như hai thân nhân.
Đã đến lúc tôi phải đi khỏi Paris, Kim tiễn tôi ra phi trường De Gaulle, từ đó tôi phải đi Macao. Mặc dù sợ phải đi một mình, tôi vẫn cố gắng không để lộ tâm trạng đó. Tôi không muốn khi về lại Bắc Hàn, Kim sẽ viết trong báo cáo rằng tôi đơn thuần chỉ là một cô gái mè nheo.
- Okhva, cẩn thận cô nhé - Kim nói với tôi tại điểm kiểm tra, ông không thể tiễn tôi tiếp được nữa. - Điệp viên Chang sẽ chờ cô tại Macao, ông ta sẽ giúp cô đến Quảng Châu. Hãy bảo ông ra rằng ngày 26 tháng Chín tôi sẽ gặp ông ấy.
- Song Ir, chúc bác may mắn! - tôi ôm chầm lấy ông. - Bác cháu mình còn gặp nhau nữa không?
Ông cười.
- Có lẽ tôi về hưu - ông nói. - Nhưng tôi vẫn hy vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau.
Cố nhiên, về sau chúng tôi lại cùng hoạt động với nhau, với nhũng hậu quả thảm khốc hơn nhiều!
*
Sau này, khi nhiều năm đã trôi qua, tôi mới biết sau khi chúng tôi chia tay nhau, chỉ thiếu chút nữa là Kim Song Ir không bảo toàn tính mạng và về lại được Bắc Hàn. Tại Hán Thành, chỉ ít phút trước khi gặp gỡ một điệp viên khác, suýt nữa ông này bị tóm. Các điệp viên Nam Hàn truy đuổi người này, côn ta chạy trốn vào một thẩm mỹ viện và tự sát bằng súng ở đó trước khi bị bắt. Cố nhiên, Song Ir phải chuồn ngay khỏi Hán Thành, nhung phải rất khó khăn ông mới ra được khỏi thành phố vì tất cả các trục đường chính đều bị chặn. Nam Hàn có vẻ đã biết về Song Ir và ở Bình Nhưỡng, mọi người xôn xao vì chắc chắn là có kẻ phản bội trong số các điệp viên được cử ra nước ngoài.
Có điều, khi đó, ở Macao, tôi đâu có biết gì. Tôi chỉ tập trung thực hiện nhiệm vụ được giao. Điệp viên Chang chờ tôi tại sân bay và trong vài ngày, ông đã bỏ thời gian giới thiệu hòn đảo này cho tôi. Chang nhắc rằng, có thể về sau tôi sẽ được cử đi thường trú ở Macao, do đó tôi phải để ý thật kỹ xứ sở này. Như Hồng Công, Macao cũng là một "thánh địa" của chủ nghĩa tư bản, nhưng vì là dân châu Á, tại đây tôi không thấy lạ lẫm bằng khi ở Châu Âu.
Tôi chỉ thực sự bắt đầu thấy lo lắng khi Chang đưa tôi ra tàu đi Quảng Châu. Tuần lễ sau đó, thực sự tôi đã phải hoạt động một mình!
Tuy nhiên, may mắn là Trung Quốc không đến nỗi xa lạ như tôi từng lo âu. Dầu sao đi nữa thì đất nước này cũng là láng giềng của Bắc Triều Tiên và cũng là một quốc gia cộng sản. Tôi có dịp để ý đến cuộc sống của thường dân ở đây, điều đó thật thú vị và cùng một lúc, tôi phát hiện ra rằng họ sống sung túc hơn dân Bắc Hàn. Cảm giác ấy vừa động viên tôi, vùa khiến tôi thấy ngột ngạt. Tôi bắt đầu có cảm giác Bắc Hàn là quốc gia nghèo nhất thế giới! Ở Trung Quốc, ít nhất các cửa hiệu còn có đầy ắp hàng hóa, những tiệm ăn ngon lành thì lại rất rẻ.
Tôi ở Quảng Châu hai ngày trước khi đi tiếp lên Bắc Kinh. Đó là một thành phố đông đúc, phương tiện giao thông chính là xe đạp. Có nhiều triệu xe đạp ở đó. Tôi lại có dịp để tâm đến mức sống ở đây, tuy thấp hơn so với Châu Âu, nhưng vẫn cao hơn Bình Nhưỡng. Thực phẩm rất đầy đủ và ngoài chợ đen, còn có thể mua được vài thứ đồ xa xỉ nho nhỏ. Tôi thấy hổ thẹn cho quê hương mình!
Khi rời Bắc Kinh, tại cửa hàng miễn thuế ngoài ga xe lửa, tôi mua quà cho các thượng cấp ở Bình Nhưỡng: 5 lọ thuốc thảo dược, hai chai rượu mạnh, một hộp bút chì. Một cách nghiêm túc, tôi có cảm giác mình sống ở một đất nước thật kỳ lạ.
Đặc trưng nhất có lẽ là sự đánh giá của tôi về chuyến di mà tôi phải nộp cho cấp trên; đến giờ, nhìn lại, tôi thấy nó thật phi lý:
Chuyến đi của tôi tại các nước tư bản Châu Âu càng khiến tôi thấy rõ những gì tôi được học đều đúng đắn. Chỉ một nhóm nhỏ sống sung sướng, số còn lại vô cùng cực khổ - điều này đúng từng từ một! Đó là một địa ngục!
Sau những con phố lấp lánh ánh điện nê-ông là những ngõ nhỏ tối tăm, nơi con người phải sống như thú vật.
Tôi thấy những hàng quán sặc sỡ mà lũ lợn tư bản thường đến ăn, đó là những kẻ hút máu và nước mặt đồng loại. Chó của chúng còn được ăn vận hơn người dân bình thường, cảnh ấy phản ánh một cách buồn bã và ghê tởm cái xã hội dãy chết của chúng.
Tôi rất tự hào vì công dân Bắc Triều Tiên được cùng sống, lao động và học tập, và không phải lo lắng vì những nhu cầu thường nhật. Giờ đây, tôi càng thấy phải quyết tâm để hiến dâng đời mình cho tương lai XHCN, và bảo vệ nó trước kẻ thù.
Được phục vụ Lãnh tụ Vĩ đại của chúng ta là niềm vinh dự và đặc ân thật lớn lao, và tôi sẽ đời đời hàm ơn vì đã may mắn được chào đời tại tổ quốc Bắc Triều Tiên!
Tôi cũng phải viết báo cáo về hoạt động của tôi và của Song Ir. Người ta chờ đợi các điệp viên phải theo dõi nhau thật kỹ lưỡng, ít nhất cũng phải như khi quan sát thực địa, và không thể viết báo cáo mà không buông những lời tự phê, và phê bình Song Ir!
Không cần phải nói, tôi đã khó khăn thế nào khi tìm từ ngữ!
CHƯƠNG SÁU

Sau bất cứ một chuyến công tác ngoại quốc nào, các điệp viên mật cũng phải theo học một khóa về ý thức hệ để củng cố lòng tin vào lý tưởng XHCN. Bất ngờ là, ít nhất đối với tôi, tôi không thể lên án hoàn toàn các xã hội phương Tây đang ăn sung mặc sướng một cách vô tư lự. Tôi luôn nhớ lại cảnh những cửa hiệu đầy hàng hóa, và những con người ăn vận đẹp đẽ.
Sukhi ghen tị với tôi về chuyến đi này, nhưng cô vui khi gặp lại tôi. Chẳng mấy chốc, chúng tôi lại là đôi bạn tốt và tôi cũng mừng là lại được ở với cô. Lẽ ra tôi không được kể với bất cứ ai về chuyến đi, nhưng tôi cảm thấy không thể đừng được: ít nhất tôi cũng phải kể mình đã đi những đâu.
Tôi bắt đầu học cả tiếng Trung, vì người ta đưa vào một chương trình mới, theo đó tất cả các điệp viên mật đều phải thạo ít nhất ba thứ tiếng. Nhiều tháng sau, Sukhi và tôi được cử đi Quảng Châu để học thật giỏi tiếng Trung, sau đó đến nửa năm ở Macao. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi ngày lên đường, và càng vui mừng hơn nữa vì được cùng nhau đi.
Tại Quảng Châu, chúng tôi ở nhà điệp viên Pak Changri, ông ta giúp chúng tôi học thổ ngữ Quảng Châu và những kiến thức về xã hội Trung Quốc. Trời nóng khủng khiếp, 38 độ, và đường phố thì chật ních người. Cứ thứ bảy, Changri lại đánh giá công việc trong tuần của chúng tôi, để tâm sao cho chúng tôi phát triển ở mức độ cần thiết.
Năm ấy với tôi là một thời kỳ đẹp đẽ. Chúng tôi có một khoảng tự do cá nhân khá lớn, ông chủ nhà thì dễ chịu và rất quan tâm đến chúng tôi, và chúng tôi có nhiều dịp để gặp gỡ những con người thú vị. Lần đầu tiên, chúng tôi thực sự được tự lập. Tôi thực sự gần gũi với Sukhi, chúng tôi có dịp tâm sự với nhau về đường đời của hai đứa, cởi mở hơn nhiều so với những gì mà thượng cấp của chúng tôi cho phép.
Sukhi muốn được lấy chồng. Bản thân tôi thì nghĩ dến điều này với tâm trạng khác nhau, tôi cũng không ngẫm nghĩ nhiều về nó vì đối với tôi, đảng luôn đứng ở vị trí đầu. Cố nhiên, tôi cũng thăng tiến nhanh hơn Sukhi trên con đường sự nghiệp. Sukhi là một cô gái thông minh, nhưng không thật có tài và cô được tuyển làm điệp viên trước nhất vì sắc đẹp. Cô cũng có suy nghĩ thiên về gia đình hơn tôi, mong muốn có nhiều con, được làm người nội trợ và có nhà cửa. Và cô khá hay phê phán Bắc Hàn một cách công khai.
- Ngay Trung Quốc người ta cũng sống khá hơn nhà mình - một buổi tối, cô phàn nàn khi chúng tôi đã lên giường, đầm đìa mồ hội vì nóng. - Châu Âu thì thế nào, Okhva? Cậu kể tớ nghe đi!
- Cậu biết là không được phép mà.
- Thôi đi cậu, có ai biết đâu!?
Tôi lưỡng lự một lúc.
- Thế này cậu ạ, Phương Tây cũng không hoàn thiện, không có chuyện ấy đâu. Tại đó, có những điều mà ở Bắc Triều Tiên chúng mình không thể có: mại dâm, cướp bóc, giết người, ăn xin trên đường phố... Tuy nhiên, tớ vẫn thấy nhớ những nơi đã được tới. Có điều, nói về nó làm gì, vô nghĩa! Chúng mình phải ở lại quê hương.
- Nếu được cử sang Châu Âu vào một lúc nào đó, tớ sẽ ở lại - Sukhi tuyên bố.
Tôi ngạc nhiên.
- Sukhi!
- Tớ nói nghiêm chỉnh đấy. Tớ đã nghe bao chuyện về Châu Âu rồi, Okhva ạ. Ở đó, thực phẩm gấp chục lần nước mình, ai cũng có xe hơi và mỗi người có thể chọn cho mình một công việc mà họ muốn.
Tôi bối rối, hơi giận Sukhi và không biết phải nói gì. Điều cô nói là đúng, nhưng nếu tôi hưởng ứng thì sẽ là sự ngu xuẩn.
- Tớ muốn lấy chồng châu Âu, nếu được một chàng tóc vàng thì tốt. Tớ muốn có nhà riêng. Không cần phải giàu có, nhung tớ chỉ muốn một điều... được tự do!
Tôi sững sờ trước lời bộc bạch của Sukhi và lo lắng cho cô bạn.
- Sukhi, vấn đề là bọn mình sống ở một đất nước mà hiện giờ mới đang phát triển. Một ngày nào đó, Bắc Triều Tiên cũng sẽ có tất cả những gì mà Châu Âu có, nhưng chia đều cho mọi người, Không chỉ những kẻ giàu có được hưởng thụ cái hay, cái đẹp. Ngoài ra, tốt nhất là bọn mình đừng nói về những chuyện này. Nếu lọt đến tai một cán bộ đảng, cậu sẽ không thoát được đâu.
*
Dù học hỏi được gì ở Trung Quốc đi nữa, chúng tôi cũng vẫn lạ lẫm ở Macao.
Tại Macao, trên thực tế, chúng tôi phải sống tự lập trong xã hội tư bản. Chúng tôi có nhà và tài khoản ngân hàng. Chúng tôi trả hóa đơn và mua bán. Đêm đêm, chúng tôi đến những tụ điểm giải trí để làm quen với văn hóa địa phương. Tất cả đều quá mới - hơn nữa, đều quá hấp dẫn - đối với chúng tôi, khiến chúng tôi phải chóng mặt.
Lần đầu chỉ qua Macao ít ngày, tôi chả biết gì mấy về mảnh đất này, nhưng lần này tôi nhanh chóng hòa nhập vào đời sống thường nhật ở đây. Chúng tôi không kết bạn vì chỉ thị được đưa ra là phải sống cách biệt. Chúng tôi ở đó không với tư cách của các du khách: nhiệm vụ của chúng tôi là phải luyện thổ âm Quảng Châu và tập làm sao để thật thành thạo trong vai trò các phụ nữ người Hoa. Chúng tôi thường xuyên phải cảnh giác, vì có thể tính đên việc các điệp viên Bắc Hàn khác cũng theo dõi chúng tôi.
Có điều, nhiệm vụ này đòi hỏi chúng tôi phải thật tự giác và không phải bao giờ chúng tôi cũng hội tụ đủ điều đó. Tại các nơi giải trí, Sukhi giành đa số thời gian để khiêu vũ với các thương gia địa phương, thi thoảng tôi phải kéo cô bạn ra về. Tôi cũng thường xuyên bị tán tỉnh và tôi không biết phải phản úng ra sao, vì bản tính tôi rất hay ngượng ngập.
Một tối nọ, tôi khiêu vũ với một nhà tài chính Hồng Công giàu có, ông này không giấu ý định muốn làm quen với tôi. Có lẽ ông ta gần ngưỡng tứ tuần, ăn vận Âu phục lịch sự và đặt cho tôi những câu hỏi thường lệ: tôi sinh ở đâu, làm nghề gì và đại loại như thế. Tôi không biết phải trả lời ra sao. Như một phản xạ, tôi kéo tay Sukhi - lúc đó đang khiêu vũ rất bạo dạn với một người da trắng - và lôi cô ta khỏi quán bar đó.
- Cậu làm gì vậy? - Sukhi bực bội gào lên với tôi, khi hai đứa dã ra ngoài phố và giằng khỏi tay tôi.
- Sukhi, tớ không chịu được nữa rồi! Làm sao có thể nhập vai với dân ở đây... khi chúng mình... không thể ở lại với họ?!
- Ô, Okhva! - Sukhi kinh ngạc. - Bất ngờ quá, cậu mà cũng nói thế à? Cậu là cô gái cả đời ngoan ngoãn kia mà.
- Ở đây mọi thứ đều khác cả. Tớ không biết nói sao với những người đàn ông ấy.
- Cứ nói tự nhiên thôi: "Anh yêu, cưới em đi và đưa em khỏi nơi đây". Nếu tớ có thể ở thêm vài tháng nữa với tay người Áo này, tớ muốn được y như thế.
Tôi sửng sốt nhìn Sukhi, nhất là vì... tôi cũng có cảm giác giống như thế.
- Cậu nói nghiêm túc đấy chứ?
Sukhi lấy bao thuốc lá ra. Nhũng tuần gần đây, cô đã quen hút thuốc; cô châm lửa rồi rít một hơi.
- Giận tớ cũng được, Okhva ạ.
Cố nhiên, chả có gì diễn ra từ những cuộc gặp gỡ như thế, mặc dầu tôi cảm thấy ngày càng bị cuốn hút bởi thứ văn hóa tư bản năng động. Có lẽ may mắn cho tôi là chẳng bao lâu sau, chúng tôi bị gọi về Bình Nhưỡng.
Về đến nơi, tôi được phép về thăm gia đình. Tôi mua cho cậu em trai Bamso một chiếc đài cầm tay, và vài món quà cho mọi người. Nhưng về đến nhà, tôi thấy cả gia đình đang thẫn thờ.
Bamso chết rồi!
Khi mẹ tôi nói tin này, tôi làm rơi chiếc đài và òa lên nức nở. Tôi nhào đến ôm mẹ vào lòng. Bamso, cậu em trai khốn khổ của tôi! Nó là đứa em tuyệt vời, luôn lạc quan và vui vẻ. Nọ bị ung thư da và ra đi khi mới 15 tuổi. Cha mẹ tôi đã tính trước được là nó sẽ qua đời, vậy mà họ vẫn đau khổ ghê gớm. Trong thời gian tôi về thăm nhà, cha tôi tránh mặt tôi, như thể ông giận tôi. Vê sau tôi mới hiểu điều này.
Gần hai năm tôi không được về nhà. Giữa chừng, em gái tôi, Hyonok đã kết hôn với một hướng dẫn viên thuộc Tổng cục Du lịch. Tôi cảm thấy mẹ tôi buồn vì tôi không phải là đứa con gái đầu đi lấy chồng. Tôi cũng nhận thấy càng ngày, tôi càng xa cách gia đình. Không được kể về thời gian huấn luyện cũng như nhiệm vụ mà tôi được giao, tôi luôn căng thẳng vì không có gì để nói. Chao oi6, chúng tôi muốn trò chuyện tâm sụ biết chừng nào! vậy mà, càng ngày, chúng tôi càng rời xa nhau...
Tuy nhiên, tất cả những điều này vẫn khiến tôi bất ngờ trước cử chỉ của cha tôi khi điệp viên Chang đến đón tôi. Mẹ tôi mở cửa và khi Chang bước vào nhà, cha tôi lập tức tiến đến gần ông ta, nắm cổ áo và đẩy ông ta vào chân tường.
- Khi nào chúng mày mới trả lại con gái cho tao? - cha tôi hét to, nước mắt ròng ròng. - Lũ khốn nạn! Khi nào?
- Bố ơi! - tôi hoảng hốt kêu lên. Tôi biết là phải ngăn chặn cha tôi bằng mọi giá. - Bố thả đồng chí ấy ra đi! - Một hành vi như thế có thể khiến cả gia đình tôi bị tử hình như bỡn!
Cha tôi thả điệp viên Chang ra. Chang bối rối và ấp úng bảo tôi: "Tôi sẽ chờ đồng chí ngoài xe".
- Bố ơi?! - tôi nghẹn ngào.
- Cút đi! - ông hét lên và đẩy tôi ra cửa. - mày không còn là con tao nữa! Mày đã thuộc về chúng nó rồi! Thế thì cút đi! Về lại với chúng nó ấy!
CHƯƠNG BẢY
Tuần sau đó, tôi không thể tập trung vào kỳ huấn luyện. Tôi thực hiện như máy mọi động tác, trong những đợt hành quân xa tôi thường bị lạc nhịp. Tôi không làm sao đưa hình ảnh gia đình khỏi đầu.
Cố nhiên cái chết của Bamso khiến tôi rất thương cảm, nhưng tôi nghĩ dến cha mẹ nhiều hơn. Hành động của cha tôi đối với điệp viên Chang khiến tôi bực mình, nhưng trong tận cùng trái tim, tôi hiểu và biết rằng ông có lý. Gia đình tôi đã tan vỡ, có lẽ là mãi mãi, và vì cha thương tôi, ông đau khổ biết chừng nào khi phải để tôi ra đi.
Thứ Bảy, tôi ra một quyết định. Chủ nhật là ngày rảnh rỗi duy nhất của chúng tôi và chúng tôi có thể nghỉ ngơi ra sao cũng được. Khôn phải luyện tập, không phải nghe giảng hay thuyết trình. Nếu có thể thuyết phục được Vuchi đừng trình báo, người ta sẽ không nhận ra là tôi vắng mặt ngày hôm ấy.
Khi chương trình huấn luyện trong ngày kết thúc và bóng tối đã phủ xuống khu trại, tôi tìm gặp Vuchi trong nhà bếp. Bà chào hỏi tôi nhiệt tình nhu thường lệ. Trong số các nhân viên của doanh trại, bà là người niềm nở nhất.
- Bác Vulchi, cháu nhất định phải về thăm gia đình - tôi bảo bà. - Tối nay, lúc trời tối là cháu lên đường. Tối mai cháu sẽ trở lại. Cháu xin bác đừng báo cáo là cháu sẽ không có mặt ở bữa sáng nhé.
Bà nhìn tôi hoảng hốt.
- Okhva ạ, bác sẵn sàng giúp cháu giữ bí mật thôi, nhưng thưọng cấp thế nào cũng có thể sẽ phát hiện ra. Và cháu biết là khi ấy thì điều gì sẽ xảy ra mà...
Tất nhiên là tôi biết. Tôi không được phép rời doanh trại và nếu người ta phát hiện ra, lập tức tôi sẽ bị đưa đi cải tạo lao động ở vùng cực Bắc của đất nước, rồi có thể bị ở đó cả đời. Có khi, người ta còn tử hình tôi cùng gia đình cũng không biết chừng.
Nhưng tôi không sao yên lòng được. Có thể tôi lại phải xa gia đình nhiều năm ròng và tôi không sao chịu được cảnh cha mẹ tôi phải chờ đợi bao năm mà không thể làm sáng tỏ được câu chuyện đau buồn hôm trước. Phải mất nhiều thời gian tôi mới nhận ra, nhưng giờ tôi đã biết, rằng đối với tôi, gia đình vẫn quan trọng hơn Đảng và Chính phủ. Khi được Đảng lựa chọn, tôi đã tự hào biết nhường nào. Nhưng khi nhớ lại những năm tháng tuổi thơ, khi tôi ở Cuba và Bình Nhưỡng, trong tôi, không gì quý báu hơn gia đình. Đồng thời, tôi tự hào vì được Đảng lựa chọn và có thể làm bất cứ điều gì cho sự thống nhất đất nước. Có điều, tôi không sao kìm được tình thương với gia đình.
- Cháu không thể làm khác, bác ạ - tôi nói với Vulchi. - Em trai cháu vừa mất và bố cháu bất hạnh lắm. Cháu phải nói chuyện với ông cụ...
Vulchi thở dài, trên gương mặt bà lộ rõ vẻ lo âu. Bà chỉ giúp tôi đến vậy được thôi, mọi thứ khác thì phụ thuộc vào may rủi.
- Nếu cháu thấy đó là giải pháp tốt nhất, cháu cứ đi đi - bà nắm tay tôi. - Nhưng cháu phải thật cẩn thận đấy, Okhva. Bác không muốn cháu bị làm sao...
Vulchi siết chặt tay tôi rồi tôi trở về phòng. Tôi nói cho Sukhi biết ý định của mình. Sukhi cũng có những lo ngại như của Vulchi.
- Cậu này - tôi bảo cô -, Chủ nhật hầu như chả bao giờ chỉ huy đến đây. Nhưng nếu ông ta đến, hãy bảo ông ta rằng buổi sáng khi mở mắt, cậu đã không thấy tớ rồi và không biết tớ đi đâu.
Sukhi gật đầu nhưng tôi thấy cô không yên lòng. Hẳn cô nghĩ rằng nếu tôi thực hiện ý định của mình, cô cũng có thể bị nguy hiểm. Tôi ngồi xuống giường cô, hai tay đặt lên đầu gối Sukhi.
- Họ sẽ không làm gì cậu đâu, Sukhi ạ - tôi tìm cách trấn an cô. - Chỉ cần nói rằng cậu chẳng biết gì cả.
Sukhi quay đầu, thở dài trong một thoáng, rồi nhìn tôi mỉm cười.
- Đừng lo -, cô nói -, tớ sẽ im như thóc!
- Cám ơn cậu.
Tôi ôm chầm lấy Sukhi rồi nhanh chóng gói ghém những thứ cần mang đi đường. Vì muốn di trong đêm, tôi không cần quần áo, và cũng không muốn mang ba-lô vì sợ vướng víu. Tôi mặc bộ đồ sẫm màu nhất, và mang theo ít tiền cùng giấy chứng minh. Buộc tóc ra đằng sau, tôi sùm sụp chiếc mũ quân đội màu đen.
Tiến đến cửa sổ, tôi nhìn ra ngoài. Trời đã tối hẳn, lên đường được rồi.
Sukhi đứng dậy và ôm tôi một lần nữa.
- May mắn cậu nhé - cô nói -, và nhớ là cẩn thận.
- Cám ơn cậu, tớ sẽ vậy mà - tôi mỉm cười và rón rén rời căn phòng, và tòa nhà.
Ở cổng vào doanh trại, có một nhóm bảo vệ nên tôi phải tránh họ, đi thông qua rừng một đoạn xa rồi mới vòng ra đường. Nhưng tôi còn phải tính đến những nhóm bộ đội tuần tra đi bộ quanh trại. Họ được trang bị súng máy và lũ chó đen to vật vưỡng. Tim đập thình thịch, tôi lao vào cánh rừng thông nối liền với thung lũng và đi theo hướng mà tôi cho là đúng.
May cho tôi là đường rừng được phủ bởi một thực vật mong mỏng, gai mềm. Đêm hôm ấy trời nóng nực, trăng lưỡi liềm khá sáng nhưng không chiếu rọi được xuống rừng cây. Tôi phải rờ rẫn trong bóng tối và cay đắng nghĩ rằng giờ đây, ít nhất tôi cũng sử dụng được chút gì trong số những thứ tôi được huấn luyện nhiều năm ròng.
Tôi cứ đi từng bước như thế được chừng năm chục mét, và đến hàng rào bao quanh trại. Chỗ này cách cổng vào 400 mét, người ta hẳn không nhận ra tôi được nữa rồi. Nhưng tôi còn phải trèo qua hàng rào dây thép gai này.
Tôi ngẩng lên nhìn, cặp mắt đã quen với bóng tối. Những cành thông che khuất bầu trời lấp lánh sao đẹp tuyệt vời. May là cây thông gần tôi nhất cành tương đối thấp, nên tôi có thể trèo lên phía trên hàng rào. Rồi tôi trườn theo cành thông, nó không vươn ra ngoài hàng rào như tôi tính rằng bằng một cú nhảy khéo léo, tôi sẽ vượt sang phía bên kia của rào.
Khi đã trườn xa đến mức có thể trên cành cây, tôi bám lấy một cành khác ở phía trên và vươn thẳng người. Tôi cách hàng rào dây thép gai chừng một thước cả về chiều cao lẫn chiều dọc, và từ đó xuống đất cũng phải dăm mét. Với thể chất của tôi, đây là một cú nhảy lớn nhưng dù sợ thế nào đi nữa, tôi đã quyết tâm rồi.
Tôi hít một hơi dài và nhảy!
Cú nhảy khiến tôi chỉ cách hàng rào chừng vài phân, nhưng khi tiếp đất tôi ngã rất đau. Không để tâm đến cảm giác đau nhói ở chân, tôi ngồi dậy và nhìn quanh. Ngay trong khoảnh khắc ấy, tôi nghe thấy những tiếng chân và sững người.
Địa điểm này là một cánh đồng trống trải, nền cỏ cao, dày và có mấy bụi cây. Tôi nấp trong một bụi cây lớn và không dám thở.
Một thoáng sau, ai đó xuất hiện và dùng đèn phin đi dò cả khu vực. Sau người ấy là một con chó to, lông đen tuyền. Hẳn họ nghe tiếng động khi tôi nhảy xuống vì người này dò la quanh chỗ tôi nấp. Chỉ còn cách tôi một bước, anh ta dừng lại, khua đèn thành một vòng tròn lớn. Tôi dán mình xuống đất và ánh đèn lóe sáng phía trên người tôi một chút. Tim đập dồn dập, tôi cầu trời khấn Phật để con chó khỏi đánh hơi thấy tôi.
Người lính dừng lại khá lâu tại đó và tôi biết rằng, nếu anh ta nhận ra tôi, tôi phải một mất một còn với anh ta; còn nếu anh ta nhận diện được tôi thì không còn cách nào khác là phải hạ sát anh ta. Ánh đèn pin hơi rọi sáng khuôn mặt anh ta, nhưng tôi không thấy quen. Tôi thủ thế để nhảy lên vật anh ta xuống, trước khi bị phát hiện. Cố nhiên, dù vậy vẫn còn con chó ở đó, mà tôi chưa biết phải làm gì với nó.
Nhưng người lính gác đột ngột quay về phía cổng vào của trại. Tôi chờ cho anh ta đi hẳn mới dám thở phào nhẹ nhõm.
Khi biết chắc rằng người lính đã đi xa, tôi nhổm dậy và đi tiếp trên cánh đồng. Tôi đi theo hướng Đông Bắc, làm thành một góc 45 độ với hàng rào quanh trại và hy vọng như thế sẽ ra nhanh đường cái. Phải cẩn thận để khỏi phát ra tiếng động và tôi mừng vì đã được huấn luyện kỹ càng. Đi như thế này không là gì so với việc chúng tôi phải luyện tập bao ngày trời ngoài trời, hay trong những hầm trú ẩn nhỏ.
Mười lăm phút sau, tôi ra tới đường cái. Giữa những bụi cây, tôi ngó ngàng tứ phía, nhưng không thấy ai cả. Thế là tôi lên đường và nhằm hướng con đường dẫn tới Bình Nhưỡng, còn cách chừng 16 cây số.
Được luyện tập với cường độ cao nên tôi có thể đi khá nhanh. Trời ngày một lạnh lẽo và một bầu không khí im lắng bao trùm lên tôi. Những đỉnh núi đen cao vút hướng lên bầu trời dưới ánh trăng tôi thành thật hy vọng sẽ không phải đối mặt với hổ báo. Những năm sống tại các trại tập huấn này khác, chua bao giờ tôi gặp hổ, nhưng tôi đã nhiều lần thấy dấu chân hổ trong những bận hành quân đường rừng. Người ta còn kể rằng một đêm nọ, ở làng gần khu trại nhất, ai đó ra ngoài trời tập thể dục và bị hổ mang đi.
Thời gian trôi đi và tôi cứ đi, đi. Một lần, tôi nghe tiếng xe sau lưng và lập tức ẩn náu. Vài phút sau, một chiếc Mercedes vụt qua trên đường làm bụi bay mù mịt. Tôi chờ khi ánh đèn đỏ sau xe chìm hẳn ở khoảng không xa xôi, rồi mới đi tiếp.
Khi trời rạng sáng, tôi đến con đường dẫn tới Bình Nhưỡng, khi đó bầu trời đã bắt đầu ửng đỏ và đột nhiên trở lạnh. Tôi đầm dìq mồ hôi và run cầm cập. Trên con đường cái, tôi chuyển sáng hướng Đông và đi bộ tiếp. Hai giờ sau, tôi đến ranh giới một thành phố.
Trời sáng hẳn, thành phố đã thức giấc. Tôi rút khỏi túi chiếc kính râm. Tại đây, giữa thanh thiên bạch nhất thế này, tôi còn phải thận trọng hơn nữa.
Giữa thành phố, có một trạm xe buýt nhỏ, tại đó tôi được biết rằng cả ngày chỉ có một chuyến xe đi Bình Nhưỡng, sẽ khởi hành trong vòng một giờ nữa và tôi sẽ về đến thủ đô trong sáng hôm ấy. Một chuyến duy nhất khác sẽ quay lại từ Bình Nhưỡng vào lúc chiều muộn.
Tôi mừng rỡ vì rốt cục cũng được ngồi và còn lim dim nữa. Một vài người dân thành phố đó cũng chờ chuyến buýt này.
Cuối cùng xe cũng tới và chúng tôi cùng lên đường về thủ đô. Giờ đây, chúng tôi qua những vùng quê quen thuộc, hai bên đường là những cánh đồng canh tác, những rừng thông và đồi núi.
Tôi xuống xe buýt, từ đó đến căn hộ mới của gia đình tôi còn phải đi vài con phố. Tôi gõ cửa và chờ đợi.
Mẹ tôi mở cửa và bà kinh ngạc vô cùng khi thấy tôi. Mãi sau bà mới hồi lại và ôm chầm lấy tôi.
- Hyon Hee – bà thì thầm và siết chặt tôi vào lòng. – Con về làm gì thế này? Đồng chí Chang đâu? Không chờ tôi trả lời, bà đã lao vào nhà gôi bộ và em trai tôi. – Hyon Hee nhà mình về đây này!
Cha tôi rảo bước từ phòng ngủ ra. Gưong mặt ông mệt mỏi và phiền não, nhưng vừa thấy tôi ông đã tươi tắn lên.
Dường như một phút chưa trôi qua kể từ lần gần nhất chúng tôi gặp nhau, tôi buột miệng nói ngay câu mà tôi muốn nói:
- Con đã làm gì sai?
Cha tôi bất ngờ vì tôi nổi khùng. Ông tránh ánh mắt của tôi và ngồi xuống ghế. Rồi ông cất giọng:
- Con không làm gì sai cả, Hyun Hee ạ. Có điều, bố khó chấp nhận tình cảnh mới con con quá. Bố không làm sao để những cảm xúc của mình độc lập với con cả...
Giọng ông buồn bã vô cùng, nỗi bực bội của tôi lập tức tan biến.
- Bố hiểu điều đó như thế nào?
- Giờ đây con đã thuộc về Đảng - rồi ông cũng ngẩng lên nhìn vào mắt tôi. - Cố nhiên về mặt con người, con vẫn là con của cha mẹ và mãi mãi là như thế. Nhưng sẽ là ngu xuẩn nếu không nhận ra rằng trong thực tế, con đã là người của Đảng, không còn của gia đình ta. – Ông cười nhợt nhạt, như thể mới nghĩ ra một điều gì vui nhộn trong óc. - Tất nhiên việc con được Đảng lựa chọn, dối với cha mẹ là một vinh dự lớn, nhưng về tình cảm điều này không khiến cha mẹ dễ chịu đựng hơn. Cha mẹ thương yêu con, Hyun Hee ạ, và từ nay sẽ không mấy khi cha mẹ được thấy con. Hồi con còn nhỏ, cha mẹ mong ước rằng rồi mai đây con sẽ có một người chồng tử tế, các con sẽ sống gần cha mẹ và cha mẹ sẽ có các cháu. Giờ thì không thể như thế nữa rồi... Và, nhất là khi Hyonok đã góa chồng... - ông thở dài -, nnặng nề lắm con ạ.
Những giọt lệ chảy dài trên mặt tôi. Tôi hổ thẹn vì đã giận cha và tôi lại cảm thấy tôi đã phản bội gia đình khi theo chỉ thị của Đảng. Nhìn lại, giờ đây tôi căm ghét biết chừng nào cái chính phủ Bắc Hàn ấy, đối với nó, cá nhân là con số không, nó sẵn sàng hy sinh mọi nhân tính cho cái lý tưởng trừu tượng “chủ nghĩa xã hội”, “Đảng”, “sự nghiệp chung”... Chúng tôi gọi nhau là “đồng chí” vì những lý do khác hẳn với những người theo chủ nghĩa Marx – Lenin thuở đầu; tại sao người ta lại cấm mọi tình cảm nồng ấm của con người?
Tôi đã phải trả cái giá như thế. Tôi đã là một thành viên đặc biệt của cái giới “tinh hoa” ấy, là thành viên hoàn hảo của Đảng, và đây là mơ ước của mọi người dân Bắc Hàn. Nó hơi giống khi chúng ta là nhà tu hành: có th3ê là một nghề đẹp đấy, nhưng phải trả giá cao vì nó.
Nhũng giờ khắc sau đó, tôi ở với gia đình, chúng tôi cùng xem các tập album ảnh cũ và trò chuyện về tương lai. Không thể có chuyện tôi ra khỏi Đảng, ít nhất là trong một thời gian, vì nếu vậy tôi sẽ khiến cả gia đình phải hổ thẹn. Nhưng tôi biết tôi sẽ héo hon nếu cả đời phải sống trong trại huấn luyện và đã có mấy trường hợp, khi một vài điệp viên sau khi thực hiện một nhiệm vụ thật nguy hiểm, để thưởng cho họ, người ta cho phép họ về nghỉ hưu và trở lại với gia đình.
Như thường lệ, mẹ tôi nấu một bữa trưa rất thịnh soạn để đãi tôi. Bầu không khí trở nên vui vẻ hơn một chút, cha tôi cư xử bình thường, nhưng gương mặt mẹ tôi vẫn đượm nỗi buồn u uất và tôi biết, bà còn đau đớn hơn cha tôi khi tôi phải ra đi.
Chúng tôi đã khóc lúc chia tay. Tôi lê bước ra bến xe buýt và hơi cảm thấy nhẹ nhõm trong người, cho dù chuyến về thăm gia đình khiến tôi bị dày vò ghê gớm. Tôi mừng vì đã về thăm nhà. Cuối cùng thì mọi thứ cũng trở về vị trí của nó, trước mắt là như thế.
Trên xe buýt, tôi ngủ gà ngủ gật. Khi ấy tôi mới bắt đầu ngấm mệt vì quá sức đêm hôm trước. Khi đến thành phố gần trại của chúng tôi nhất, chỉ thiếu chút nữa là tôi ngủ quên. Chân tôi đau nhức, nhưng vẫn phải đi.
Giữa chừng, tôi băn khoăn không biết hôm ấy người ta có nhận ra tôi vắng mặt hay không. Tôi suy luận: nếu nhận ra, hẳn họ đã rượt theo và bắt tôi rồi. Cố nhiên, cũng có thể họ ung dung chờ tôi về và chỉ khi ấy mới bắt. Tôi buồn bã lê bước, cố quên đi cái chân đau nhức. Bầu trời khi sáng còn rất trong xanh, giờ đã bị những đám mây xám xịt bao phủ.
Trời chập tối, mưa càng nặng hạt và trong ít phút, tôi đã ướt như chuột lột. Hai lần tôi nghe thấy tiếng ô tô đến gần, hai lần ấy tôi phải ẩn dưới những bụi cây hai bên lề đường. Trên chân phải tôi, một cái bọc nước khổng lồ bị vỡ khiến tôi đau khủng khiếp. Mưa như trút nước tạo thành một nhịp điệu đơn điệu và tôi biết rằng còn lâu nó mới tạnh.
Khoảng 8 giờ tối, tôi thoáng thấy một điểm kiểm tra ở xa xa và tôi rời đường chính xuống cánh đồng. bầu trời xám xịt không hoàn toàn tối, vì thế thi thoảng tôi phải trườn dưới đất để ẩn náu. Người tôi toàn bùn vì đất dưới chân tôi ướt sũng. Tôi đã mệt đến mức chỉ còn cử động theo thói quen, chân nam đá chân xiêu như một cái máy. Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ: làm sao về đến nhà, ngâm mình trong bồn tắm nước nóng vài giờ liền!
Đến hàng rào bao quanh trại, tôi dừng lại và ngó nghiêng. Không thấy lính gác đâu cả, tôi đứng dậy và trèo qua hàng rào. Tôi không nghĩ đến chuyện tìm một cây cao để trèo và nhảy đại vào trại như lúc đi, chỉ muốn bằng cách nào đó vượt qua hàng rào dây thép gai. Tôi bám lấy cây cột rào gần tôi nhất, cột này cong vào phía trong trại; cứ thế tôi trèo cho đến đỉnh hàng rào. Ở đó, tôi hít một hơi dài, đứng tấn sẵn sàng, rồi dậm chân nhún mình nhảy vào trong, tay cũng hướng về phía trại. Tôi bay qua hàng rào thép gai, nhưng cú nhảy và lộn nhào quá thành công khiến tôi dập mặt vào một vũng bùn. Kỳ lạ là tôi không bị thương, nhưng phải mất chút thời gian mới hoàn hồn và có sức đi tiếp.
Qua rừng thông, tôi rảo bước về phía ánh sáng le lói giữ những hàng cây. Chẳng mấy chốc tôi đã đến lề trại. May cho tôi là không ai đi lại tại đó, tôi chạy đến cửa tòa nhà và nhào vào trong. Khi ấy, tôi thấy nhẹ nhõm trong lòng đến nỗi chỉ muốn hét lên vì mừng.
Sukhi đang đọc sách trong buồng ngủ. Khi tôi bước vào, cô ngước lên nhìn rồi phá lên cười, hai tay xoắn lấy nhau.
- Có gì đáng cười vậy cậu? - tôi lẩm nhẩm và vội thay quần áo.
Sukhi phải lấy tay che miệng, nhưng càng bật ra tiếng cười.
- Cậu mà thấy cậu nhỉ... - cô nói.
Cáu kỉnh, tôi tiến đến chiếc gương treo trên cửa ra vào, và rồi tôi cũng bật cười. Mặt tôi đầy bùn, tóc thì chọc cả vào mặt dưới chiếc mũ.
- Sukhi này - tôi hỏi khi đã cởi hết quần áo và dùng khăn tắm quấn quanh mình -, có ai nhận ra tớ không có mặt trong trại không?
Sukhi thôi cười, nhưng vẫn cười mỉm.
- Đừng lo, cậu an toàn mà. Cả ngày hôm nay ở đây buồn tẻ lắm. Kể cho tới nghe đi, cậu thế nào?
- Ôi, Sukhi ơi, tớ không thể giải thích cho cậu được đâu. Khó lắm...  cậu ạ. Đôi khi tớ cũng không biết tớ ở đây làm gì...
Tôi nằm thư thái trong bồn tắm nước nóng rất lâu. Chỉ thiếu chút nữa là tôi đã chợp mắt vì mệt mỏi và hơi nước nóng. Tôi không muốn ra khỏi bồn, nhưng rồi cũng phải ra. Hơi ngơ ngẩn, tôi trở lại về phòng ngủ và thấy Sukhi bồn chồn đi lại.
- Okhva - cô nói ngay khi tôi bước vào phòng -, may là cậu về kịp. Điệp viên bí mật Chang vừa đến và chờ cậu ở phòng khách.
- Chang à? - tôi  cảm thấy hoảng hốt. - Nhưng ông ấy không biết tớ vắng mặt phải không?
- Không, chắc là không - Sukhi đáp. - Ít nhất là tớ cũng không nghĩ như vậy. Có lẽ cậu sẽ được giao một nhiệm vụ mới gì thì đúng hơn. Có một ông gia đi cùng điệp viên Chang nữa. Tên ông ấy là Kim Song Ir thì phải.
- Kim Song Ir?
Sukhi gật đầu.
- Đi đi nào, cậu thay quần áo đi. Tớ đã nói với họ là cậu sẽ xong ngay đấy.
Tôi suy nghĩ liên miên trong khi thay bộ quần áo mới, rồi chải đầu và chạy vào phòng khách. Đồng chí Chang ngồi ở phía bên kia bàn, đang trò chuyện với Kim Song Ir. Khi tôi bước vào phòng, hai người đứng dậy.
- Okhva - Chang mỉm cười với tôi -, đồng chí còn nhớ Kim Song Ir không?
Tôi gật đầu.
- Tất nhiên, cháu vui vì được gặp lại bác. Bác ngồi xuống đi ạ, Song Ir.
Chúng tôi ngồi xuống bàn. Chang lấy ra bao thuốc, mời Kim và họ châm thuốc.
- Thế này - Chang thở ra khói thuốc -, chắc đồng chí tò mò xem chúng tôi đến gặp đồng chí có việc gì? Trưóc mắt tôi chưa thể nói gì nhiều hơn, nhưng tôi muốn 15 phút nữa đồng chí sẽ chuẩn bị xong xuôi để chúng ta lên đường.
- Tôi phải đi ạ? - tôi ngạc nhiên. - Vâng, tất nhiên, nhưng đi đâu và trong bao lâu ạ?
- Đầu tiên tôi trả lời câu hỏi thứ hai của đồng chí - Chang đáp. - Đồng chí sắp xếp tất cả đồ đạc đi vì có lẽ đồng chí sẽ không trở lại đây. - Trong một thoáng, tôi sợ run cả người. Tôi tưởng người ta đã biết về "bài thực tập tự do" của tôi - ở trại, chúng tôi gọi như thế nếu ai rời khu trại mà không được phép. Nhưng tôi hoàn hồn khi Chang nói tiếp. - Về câu hỏi đầu, tôi chỉ có thể nói rằng chúng ta sẽ lên Bình Nhưỡng, đến đại bản doanh tình báo. Đồng chí sẽ nhận nhiệm vụ tại đó.

CÒN TIẾP 

No comments: